Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hành trình của khát vọng và phát triển

1. Bối cảnh lịch sử

1.1. Bối cảnh quốc tế

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, những biến đổi sâu sắc của thời cuộc lúc bấy giờ mở ra thời cơ lớn cho các dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập. Ở châu Âu, Hồng quân Liên Xô đang tiến nhanh về Berlin (Đức) để tiêu diệt tận gốc sào huyệt của phe phát xít. Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, quân Nhật ngày càng suy yếu, nguy cơ thất bại trước những đòn tấn công của phe Đồng minh cao, kết quả chiến tranh gần như được định đoạt. Để nhanh chóng có những phương án giải quyết những vấn đề sau chiến tranh, tháng 2 năm 1945, một hội nghị đã được tổ chức  tại Yalta thuộc bán đảo Crimea (Liên Xô) với sự tham gia của nguyên thủ ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh. Một trong những quyết định được đưa ra chính là phân chia khu vực ảnh hưởng và giải giáp quân đội phát xít giữa các nước trong phe thắng trận. Khi đó, hội nghị quyết định Đông Nam Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây, nhấn mạnh mối quan hệ ràng buộc giữa các mẫu quốc với các nước đang là thuộc địa.[1]

Ngày 15/8/1945, dưới áp lực tấn công từ Liên Xô và hứng chịu hai quả bom nguyên tử của Mỹ vào hai thành phố Hiroshima và Nagasaki (6/8/1945 và 9/8/1945), Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, chiến tranh thế giới kết thúc, quân Nhật ở tất cả các khu vực đều bị tê liệt.[2] Song song với sự suy yếu của Nhật chính là sự trở lại của người Pháp, theo quyết định tại Hội nghị Potsdam (8/1945), quân Anh được phân công vào Đông Dương giải giáp quân Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16, còn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc thực hiện nhiệm vụ giải giáp từ phía Bắc. Dưới sự hậu thuẫn của hơn 1 vạn quân Anh, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị trở lại Đông Dương nhằm tái lập nền thống trị cũ.[3] Theo đánh giá từ Tiến sĩ Trần Minh Trưởng, Đảng, Mặt trận Việt Minh (tên đầy đủ là Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh, thành lập ngày 19/5/1941) và dân tộc Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ “nổ ra đúng lúc”, tận dụng thành công bối cảnh quốc tế, cụ thể là sự thất bại của quân Nhật trong Thế chiến II, để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, giành được độc lập trước khi các thế lực bên ngoài kịp can thiệp, cụ thể là lực lượng Đồng minh kéo vào Việt Nam.[4]

1.2. Bối cảnh trong nước

Ở Việt Nam, trước cả khi Nhật đầu hàng, tình hình chính trị và xã hội đã rơi vào trạng thái khủng hoảng sâu sắc. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, lập nên Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, nhưng chính quyền này tỏ ra bất lực và mất uy tín trước nhân dân. Cùng lúc đó, nạn đói khủng khiếp đầu năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người, càng làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với quân phát xít Nhật trở nên gay gắt, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang từng phần bùng nổ ở nhiều nơi như Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ngãi,… Đồng thời, Việt Minh mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân, chuẩn bị cho một cuộc tổng khởi nghĩa toàn quốc.[5]

Khi Nhật tuyên bố đầu hàng, thời cơ khởi nghĩa xuất hiện. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa phát Quân lệnh số 1, chính thức phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Tại Tân Trào, từ 14 đến 16 tháng 8, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội đã thông qua kế hoạch khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn: ngày 19 tháng 8 Hà Nội khởi nghĩa thành công, tiếp đến Huế (23/8), Sài Gòn (25/8), và đến 28/8 chính quyền cách mạng được thiết lập trên cả nước.[6] Bàn về vấn đề tác động của việc quân Nhật đầu hàng Đồng minh đến Việt Nam, một số nhận định cho rằng Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công dễ dàng bởi đã tồn tại một “khoảng trống quyền lực”, khi Pháp bị Nhật lật đổ, Nhật bại trận và Đồng Minh chưa kịp tiến vào. Tuy nhiên, trên thực tế, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử trong nước và quốc tế, điều này không đúng, chẳng hạn như Tiến sĩ Trần Đăng Khởi đã khẳng định “trên lãnh thổ Việt Nam không hề tồn tại một khoảng trống quyền lực nào”.[7] Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Nhật vẫn kiểm soát toàn bộ Việt Nam và Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim vẫn tồn tại đến 17/8. Mặc dù thất bại trong Thế chiến II và tinh thần sa sút nặng nề, nhưng đến thời điểm bùng nổ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, quân Nhật ở Việt Nam vẫn còn lực lượng khoảng 100.000 quân với trang bị hiện đại, đủ khả năng chiến đấu khi có lệnh. Sự suy giảm ý chí chỉ tạo thuận lợi khách quan cho cách mạng, chứ không đồng nghĩa với việc Nhật mất sức mạnh.[8] Các sử gia như Vũ Quang Hiển, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Sự và Phạm Hồng Tung thông qua các công trình nghiên cứu cũng khẳng định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, có thực lực, không phải là “ăn may” do có “khoảng trống quyền lực”.[9] Việc Nhật đầu hàng đã tạo ra thời cơ thuận lợi ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Ngay sau thắng lợi, để bảo đảm tính chính danh của nhà nước mới và tranh thủ sự công nhận quốc tế, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố nền độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn đặt nền móng pháp lý vững chắc bằng cách bác bỏ ách thống trị của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật. Văn bản trích dẫn tư tưởng phổ quát từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) để khẳng định nguyên tắc bình đẳng chủ quyền, nguyên tắc dân tộc tự quyết theo công pháp quốc tế, cũng như đề cao quyền sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc của mọi dân tộc.[10] Đây là bước đi chiến lược, giúp Việt Nam có vị thế pháp lý trên trường quốc tế trong bối cảnh các thế lực bên ngoài đang chuẩn bị quay lại can thiệp. Sự thật đã được chứng minh khi Việt Nam vừa tuyên bố độc lập, thực dân Pháp đã nhanh chóng bắt đầu quá trình tái xâm lược Việt Nam bằng việc tấn công trực diện Nam Bộ, còn quân Trung Hoa Dân Quốc thì không ngừng gây bạo động ở các tỉnh miền Bắc, tạo thời thế hỗn loạn và phức tạp.[11]

2. Chặng đường từ “Đổi mới” đến “Kỷ nguyên vươn mình” (1986 – 2025)

Trong tiến trình phát triển, mỗi giai đoạn lịch sử đều đặt ra những yêu cầu điều chỉnh chiến lược khác nhau. Nếu sau thống nhất đất nước, Việt Nam phải tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh và ổn định thể chế, thì bước sang thập niên 1980, bối cảnh quốc tế và trong nước đã đặt ra nhu cầu cấp bách về đổi mới. Từ đó, công cuộc Đổi mới năm 1986 trở thành điểm khởi đầu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, để rồi đến năm 2025, khi nền tảng phát triển và vị thế quốc tế đã thay đổi, Việt Nam tiếp tục bước vào giai đoạn cải cách sâu rộng hơn nhằm khẳng định tầm vóc trong trật tự toàn cầu.

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nước ta vẫn phải tiếp tục công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Suốt quá trình đó, nước ta dồn toàn lực để vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vừa thực hiện chi viện và kháng chiến ở miền Nam. Đến ngày 25/4/1976, gần một năm sau ngày giải phóng miền Nam, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung lần thứ 2 được diễn ra trên phạm vi cả nước, đánh dấu cột mốc Việt Nam chính thức thống nhất về mặt Nhà nước. Tuy nhiên, giai đoạn vừa thống nhất, nước ta gặp nhiều khó khăn khiến tiến trình hội nhập chưa đạt được nhiều thành tựu. Đến năm 1986, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, tiến trình hội nhập mới thật sự chứng kiến nhiều thay đổi. Việt Nam từ một nước là thành viên khối Xã hội chủ nghĩa, chỉ tập trung quan hệ kinh tế với các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) và coi quan hệ với Liên Xô là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của mình đã có bước chuyển mình khi dần gia nhập vào các cộng đồng, tổ chức quốc tế.[12]

2.1. Bối cảnh quốc tế

Cuộc cách mạng công nghiệp với nhiều sáng kiến trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã thúc đẩy xã hội hóa sản xuất, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới và phát triển nền kinh tế tri thức. Hơn nữa, xu thế hòa hoãn Đông – Tây và quá trình toàn cầu hóa đã phản ánh một giai đoạn mà các nước chú trọng hơn đến việc cải thiện quan hệ, tăng cường hợp tác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Các nước lớn buộc phải điều chỉnh chính sách, giảm chạy đua vũ trang, nhận thức được việc tăng cường sức mạnh quốc gia cần mở rộng quan hệ và phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật. Những thay đổi trong bối cảnh quốc tế này tác động đáng kể đến tiến trình hội nhập của Việt Nam.[13]

2.2. Bối cảnh khu vực

Kể từ 1986, khu vực châu Á chứng kiến nhiều thay đổi quan trọng. Đông Á trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới với nhiều “con rồng” kinh tế, chẳng hạn như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Cùng với xu hướng của thế giới, khu vực châu Á cũng thúc đẩy các hợp tác song phương thông qua nhiều diễn đàn như Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Khu vực Thương mại tự do (AFTA), Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC),… Tuy vậy, vấn đề Campuchia vẫn tạo ra những rào cản nhất định cho Việt Nam. Với mong muốn hỗ trợ việc xây dựng nhà nước theo yêu cầu của nhân dân Campuchia, Việt Nam thực hiện rút dần quân tình nguyện từ năm 1982 đến 1989. Vì vậy, giai đoạn 1986, các thế lực ủng hộ chính quyền Khmer đỏ đã lợi dụng điều này để gây khó dễ cho Việt Nam trên trường quốc tế, buộc Việt Nam phải rút hết quân về nước.[14]

2.2. Bước đầu đổi mới (1986)

Giai đoạn vừa thực hiện đổi mới, Đảng và Nhà nước nêu ra một số thay đổi trong tư duy về đối ngoại. Một là, tích cực đổi mới công tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá những chuyển biến của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế. Hai là, đổi mới tư duy về quan hệ giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế, giữa an ninh và phát triển, giữa hợp tác và đấu tranh. Bộ Chính trị chủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại, chủ trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Ba là, đổi mới tư duy về tập hợp lực lượng, từ đó xác định chủ trương, đường lối và chính sách đối ngoại. Nhờ có đánh giá đúng chiều hướng phát triển của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế, Đảng xây dựng được đường lối đối ngoại phù hợp, góp phần từng bước giải quyết vấn đề Campuchia, giải tỏa bao vây cấm vận kinh tế và cô lập về chính trị.[15] Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (tháng 9/1979) được đánh giá là mốc khởi đầu của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên Đảng đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Từ những quan điểm, chủ trương cơ bản này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, thể chế mới nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá.[16] Theo sau đó là Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa VI, ngày 20/5/1988, về Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới đã khẳng định: “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”.[17] Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) và Đại hội VIII (tháng 6/1996), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.[18] Với việc tập trung nguồn lực phát triển kinh tế, Đảng khẳng định mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển trong quan hệ với các nước, không phân biệt chế độ chính trị.[19] Giai đoạn này, Việt Nam đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 42 nước, trong đó có Mỹ, một quốc gia mà trong chính sách của những kỳ Đại hội trước đó ta luôn nhìn nhận là một kẻ thù.

Ngay sau đó, Việt Nam cũng gia nhập ASEAN sau ba năm làm quan sát viên. Quyết định gia nhập ASEAN của Việt Nam không chỉ thể hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập khu vực và quốc tế mà còn xuất phát từ nhu cầu cấp thiết phá vỡ thế bao vây kinh tế, cô lập chính trị cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 và phục vụ lợi ích chiến lược lâu dài của Việt Nam.[20] Kể từ đây, Việt Nam tích cực đóng góp vào việc củng cố đoàn kết nội khối, mở rộng hợp tác trong khối ASEAN cũng như giữa ASEAN với bên ngoài. Cụ thể, chỉ sau hơn 3 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã chủ trì Hội nghị cấp cao ASEAN lần 6, đưa ra Chương trình hành động Hà Nội, đưa ra quyết định kết nạp Campuchia làm thành viên thứ 10 và rất nhiều các vai trò khác nữa. Từ đây, uy tín và vị thế của Việt Nam trong ASEAN và trên thế giới ngày một nâng cao, thể hiện tinh thần của một thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ X với cuộc “Tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn của 20 năm đổi mới”, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định “Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn”.[21] Qua 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Về xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tốt và công tác dân tộc, tôn giáo, vận động người Việt Nam ở nước ngoài có tiến bộ. Từ đó, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Đồng thời, Đảng đã có những bước đổi mới quan trọng trong nhận thức về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hoạt động đối ngoại phát triển mạnh, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Từ những thành quả đạt được, Đại hội X đã bổ sung thêm 2 đặc trưng vào những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đó là: 1- Xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.[22] Về kinh tế và đối ngoại, thông qua Đại hội X, Việt Nam tiến hành phát triển theo mô hình nền kinh tế thị trường, xây dựng mục tiêu trong công tác đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.[23]Đến Đại hội lần thứ XI, Đảng chuyển từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” được thông qua tại Đại hội X sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”.[24] Từ đây, Việt Nam không chỉ xem hội nhập là công cụ để phát triển kinh tế mà còn là chiến lược tổng thể trong chính sách đối ngoại của quốc gia.

Vào năm 2015, chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu Cấp cao Việt Nam tới Mỹ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quan hệ hai nước và cả tiến trình hội nhập của Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Mỹ và tiến hành hội đàm tại phòng bầu dục trong Nhà trắng. Chuyến thăm thể hiện sự thừa nhận chính thức và trang trọng của Mỹ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, là sự “tôn trọng đầy đủ” thể chế chính trị của Việt Nam và vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước của Đảng ta.[25][26] Đồng thời, trong cuộc gặp, hai nước lần đầu tiên xác định nguyên tắc hợp tác cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Thông qua chuyến thăm, Việt Nam một lần nữa chứng minh tinh thần của chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, là minh chứng rõ nét cho tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Kể từ năm 2013, Trung Quốc gây ra nhiều hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế đối với vùng biển Việt Nam, chẳng hạn như việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương – 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc có hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam năm 2019 và rất nhiều những tranh chấp khác. Đối với những tranh chấp này, Việt Nam luôn tuân thủ luật pháp quốc tế, gửi công hàm kêu gọi cộng đồng quốc tế để giải quyết vấn đề thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình. Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn và quá trình xử lý phức tạp do những hạn chế về thẩm quyền của các cơ quan luật pháp quốc tế, Việt Nam vẫn kiên định với quan điểm tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của mình trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.[27]

2.3. Kỷ nguyên vươn mình (2025)

Sau nhiều thập kỷ, năm 2025 đã đánh dấu bước chuyển từ việc chứng minh uy tín sang triển khai và thực hiện mạnh mẽ. Trọng tâm là hai đường lối chủ chốt của Đảng định hình sự chuyển dịch này, đầu tiên là Nghị quyết 57-NQ/TW (tháng 12/2024) về “đột phá” trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và thứ hai là Nghị quyết 68-NQ/TW (tháng 5/2025) nâng tầm khu vực tư nhân lên “động lực quan trọng nhất”, tiếp theo là Kế hoạch hành động 138/NQ-CP của Chính phủ (tháng 5/2025).

Với tính chính danh được củng cố, chính sách năm 2025 chuyển hướng sang tăng giá trị gia tăng thay vì chỉ ổn định thu nhập: tăng trưởng đã phục hồi mạnh mẽ và Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng cả năm trong khoảng 6-7%, nhưng cảnh báo Việt Nam phải leo lên các nấc thang mới trong chuỗi giá trị để duy trì thành quả. Do đó, di sản phúc lợi xã hội trở thành nền tảng cho các cải cách nhằm thúc đẩy năng suất (kỹ năng, công nghệ và động lực của doanh nghiệp) thay vì chỉ tập trung vào các khoản chuyển giao định kỳ.[28][29][30][31] Thành công xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào hoạt động lắp ráp cuối cùng, sử dụng nhiều lao động, giá trị thấp, vốn hạn chế tăng trưởng thu nhập trong nước. Các đánh giá quốc tế nhấn mạnh nhu cầu “chuyển đổi” sang các ngành sản xuất và dịch vụ có giá trị cao hơn; OECD lưu ý rằng hơn 90% việc làm trong ngành sản xuất là lao động tay nghề thấp. Nghị quyết 68 đã giải quyết vấn đề này bằng cách tái cân bằng mô hình tăng trưởng xoay quanh doanh nghiệp tư nhân, coi khu vực tư nhân là động lực quan trọng nhất và đặt ra các mục tiêu cụ thể. Kế hoạch tiếp theo của Chính phủ (NQ 138/NQ-CP) nhằm mục đích chuyển đổi điều này thành những thay đổi về quy định và tiếp cận thị trường.[32][33]

Nghị quyết 68 đã đánh dấu một bước chuyển lịch sử khi chính thức công nhận kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng độc lập và then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, một sự thay đổi so với quan điểm trước đây coi khu vực tư nhân là thành phần thứ yếu hoặc bổ sung. Nghị quyết đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng: tăng số lượng doanh nghiệp đang hoạt động lên 2 triệu vào năm 2030, đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP lên hơn 55% và đưa các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với năng lực đổi mới sáng tạo mạnh mẽ hơn.[34][35]

Nghị quyết 57 tập trung vào việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ sang nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những trụ cột then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững và hiện đại hóa nhanh chóng. Bên cạnh đó, nghị quyết 57 tái định hình khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo (STI) thành đòn bẩy tăng trưởng tiếp theo của nền kinh tế, gắn liền với việc nâng cao vốn nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D) và cơ sở hạ tầng số. Nghị quyết 03/NQ-CP của Chính phủ (tháng 1/2025) cũng đặt ra những nhiệm vụ cụ thể: xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cải thiện tài chính cho STI và gắn kết giáo dục – đào tạo với nhu cầu của ngành. Điều này rất kịp thời bởi cơ cấu lao động hiện tại đang hạn chế tăng trưởng tiền lương; việc nâng cao trình độ công nghệ là con đường bền vững duy nhất để nâng cao phúc lợi hộ gia đình mà không làm xói mòn năng lực cạnh tranh.[36][37][38]

Những cải cách này phù hợp với đặc thù kinh tế của Việt Nam, nền kinh tế vẫn còn thâm dụng lao động, lợi ích từ lao động giá rẻ không đủ để tăng trưởng dài hạn hoặc đạt được mức thu nhập cao hơn. Việc tập trung vào sự năng động của khu vực tư nhân và phát triển khoa học công nghệ sẽ giải quyết thách thức mang tính cấu trúc này, định vị đất nước cho các hoạt động kinh tế có giá trị cao hơn.[39]

Đi kèm với các cơ chế và giải pháp được ban hành thông qua Nghị quyết 57 và 68 nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, một trong những hành động cần làm song song để bảo đảm các nghị quyết này đi vào thực tiễn chính là cải cách thể chế. Việt Nam hiện đang triển khai tái cấu trúc hành chính trên quy mô lớn, bao gồm việc tinh giản các cấp chính quyền địa phương và cải cách pháp lý trong các lĩnh vực đầu tư, tiếp cận đất đai và thị trường tài chính, với trọng tâm là nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin và chuyển đổi mô hình quản trị. Thực tế, nếu không giảm bớt thủ tục hành chính, tháo gỡ rào cản pháp lý và bảo đảm luật pháp được thực thi công bằng, thì các động lực từ Nghị quyết 57 và 68 khó có thể phát huy đầy đủ. Do đó, cải cách thể chế trở thành “đường mở” giúp hiện thực hóa mục tiêu: tạo lập một môi trường thuận lợi để đổi mới sáng tạo, khuyến khích khu vực tư nhân, và qua đó nâng giá trị gia tăng cho nền kinh tế.[40][41]

3. Triển vọng và thách thức phát triển tương lai của Việt Nam

Bước vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, Việt Nam hướng đến xây dựng đất nước giàu mạnh với sự phát triển tăng tốc và đột phá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong những yêu cầu để thực hiện được mục tiêu này là việc hoàn thành được quá trình “đột phá kép” với định hướng phát triển đột phá trong cả quá trình hiện đại hóa và quá trình giải quyết khó khăn.[42] Với yêu cầu trên, việc có được một nền kinh tế mạnh mẽ, toàn diện và vị thế quốc tế cao là một điều không thể thiếu.

3.1. Phát triển kinh tế

Đối với kinh tế, Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 đã cho thấy tham vọng của nước ta trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến 2045. Theo cố vấn kinh tế của UNDP tại Việt Nam, ông Jonathan London, mục tiêu tăng trưởng này đã thể hiện được sự tự tin của Chính phủ và niềm tin vào tiềm năng của nước ta. Ông cũng bổ sung rằng nhiều tổ chức và nhà quan sát quốc tế cũng có cùng nhận định lạc quan này.[43] Song song với đó, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc cũng nhận định việc chuyển hướng sang nền kinh tế xanh, kinh tế số, điển hình nhất là thông quan Nghị quyết 57 về đột phá khoa học, chính là nền tảng quan trọng việc đạt được mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững trong thời gian sắp đến.[44] Với tinh thần đó, Chính phủ nước ta đã tập trung vào thực hiện ba đột phá chiến lược theo nghị quyết Đại hội Đảng, bao gồm (1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế, (2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và (3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.[45][46] Đầu tiên là đột phá về thể chế và giải pháp. Chiến lược này đã được thể hiện qua công tác tinh gọn bộ máy nhà nước và tái thiết kế đơn vị hành chính, tạo điều kiện cho thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất. Cùng với đó, nhà nước cũng thúc đẩy phát huy vai trò dẫn dắt của các “đầu tàu kinh tế ” như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính với mức tăng trưởng cao hơn bình quân chung của cả nước. Song song với đó, Việt Nam cũng đẩy mạnh xây dựng “hệ sinh thái nhân lực quốc gia” nhằm phát triển được đội ngũ lao động cạnh tranh, đổi mới sáng tạo trong thời đại đại hiện nay.[47] Cuối cùng, mục tiêu xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại đang dần được thực hiện qua đầu tư dự án hạ tầng trọng điểm như sân bay Long Thành, hệ thống cảng biển mới và đường sắt cao tốc Bắc – Nam.[48] Đây có thể được xem là tín hiệu tích cực cho quá trình phát triển tiến gần hơn đến mục tiêu tăng trưởng đã để đề ra của nước ta.

Tuy vậy, trước tình hình thế giới đang biến động phức tạp như hiện nay, triển vọng hoàn thành mục tiêu này đang ngày càng gặp nhiều thách thức. Sự bất ổn của nền kinh tế toàn đã được thể hiện trong dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế về tăng trưởng kinh tế năm 2025 xuống mức 2,8% với tăng trưởng thương mại chỉ ở mức 1,7% và nâng dự báo mức lạm phát lên 4,3%.[49] Thêm vào đó, sự khó lường của chính sách thương mại quốc tế mà gần đây nhất là chính sách thuế quan Mỹ trong thời gian vừa qua, đã gây không ít khó khăn cho tăng trưởng thương mại của nước ta. Là một nền kinh tế chịu ảnh hưởng nhiều vào nhu cầu tiêu dùng của Mỹ, Việt Nam dễ bị tổn thương trước sự suy giảm chi tiêu của các hộ gia đình Mỹ. Thêm vào đó, việc chịu thuế vận chuyển hàng trung gian từ Trung Quốc càng tăng thêm áp lực cho thương mại nước ta.[50] Ở một mặt khác, không chỉ chịu tác động của yếu tố kinh tế thế giới, nền kinh tế trong nước cũng tạo khó khăn cho mục tiêu GDP 2 con số. Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, những động lực của nội tại nền kinh tế có lợi cho tăng trưởng như lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên, khả năng hấp thụ vốn,.. đã bị khai thác gần như cạn kiệt và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến xu hướng tăng trưởng kinh tế giảm dần.[51] Hiện tại, động lực tăng trưởng của nước ta chủ yếu vẫn dựa vào các lĩnh vực như sản xuất, dịch vụ, xây dựng và nguồn đầu tư nước ngoài (FDI), những lĩnh vực chủ yếu chỉ mang tính tăng trưởng mở rộng hơn là cải thiện hiệu quả và giá trị gia tăng.[52]

Với các chính sách và định hưởng được đề ra, năm 2025 được xem là bước ngoặt đưa nền kinh tế xứng tầm thế giới. Có thể nói, nước ta cần tận dụng tốt những cơ hội để vượt qua thách thức kinh tế lẫn trong và ngoài nước để đạt “tăng tốc bứt phá”, đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trước thềm kỉ nguyên phát triển mới.

3.2. Nâng cao vị thế uy tín quốc gia

Không chỉ dừng lại ở kinh tế, Việt Nam cũng định hướng nâng tầm vị thế đất nước về mọi mặt, đặc biệt là đối ngoại, an ninh – quốc phòng và văn hóa – xã hội. Định hướng nhiệm vụ cơ bản trong đối ngoại của Việt Nam đã được đề ra trong Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhằm xác định “vai trò tiên phong của đối ngoại” trong “tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”.[53] Nhiệm vụ này đã được thể hiện qua các thành tựu ngoại giao của đất nước và trường phái ngoại giao “cây tre” độc đáo mang dấu ấn bản sắc Việt Nam. Với phong cách ngoại giao mềm mại, khôn khéo, biết nhu, biết cương đúng lúc, ngoại giao cây tre đã giúp nước ta đa phương hóa và đa dạng hóa mối quan hệ ngoại giao cũng như là thể hiện được bản thân là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng động quốc tế. Trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế được xác định là “kim chỉ nam” trong quá trình nâng tầm vị thế quốc gia. Cụ thể hơn, chủ trương hội nhập liên tục chuyển từ hội nhập kinh tế sang hội nhập toàn diện để đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại. Một trong những ví dụ điển hình nhất chính là việc đẩy mạnh thiết lập quan hệ ngoại giao song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã thiết lập ngoại giao với 194 quốc gia và mạng lưới 37 nước có quan hệ Đối tác toàn diện trở lên, trong đó 13 quốc gia là Đối tác Chiến lược toàn diện. Ngoài ra, nước ta cũng là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế. Sự nâng cấp quan hệ song phương, đa phương với các đối tác quốc tế đã thể hiện được nỗ lực của nước ta từ một quốc gia bị bao vây cô lập đến là “thành viên tích cực” của cộng đồng quốc tế.[54] Cùng với đó, thành tựu này tạo được địa dư giúp mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), việc trợ phát triển chính thức (ODA) chất lượng cao cùng nhiều tiến bộ và tri thức, kinh nghiệm từ cộng đồng quốc tế trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Ở một khía cạnh khác, Việt Nam vận dụng tốt vị thế địa lý chiến lược để tăng cường hợp tác liên kết với các quốc gia trong khu vực cũng như thế giới khi khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là đầu tàu phát triển năng động và là tâm điểm mới về kinh tế, thương mại, đầu tư.[55]

Tuy nhiên, với tình hình thế giới liên tục có những thay đổi trong cán cân quyền lực của những quốc gia lớn và tổ chức thế giới, đặc biệt là sự cạnh tranh của các quốc gia lớn, ngoại giao Việt Nam phải càng “vươn lên tầm cao mới ” để ngày càng đưa đất nước phát triển hơn. Theo Phó Giáo sư Ekaterina Koldunova của Khoa nghiên cứu châu Á châu Phi thuộc Học viện Quan hệ quốc tế Moscow MGIMO tại Nga, Việt Nam sẽ phải xây dựng chính sách cũng như biết cân bằng giữa các cường quốc và điều hướng các mối quan hệ quốc tế phức tạp nếu muốn phát triển được mối quan hệ bền chặt với các đối tác quốc tế này.[56] Điều này đòi hỏi nước ta phải ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao cũng như thực hiện hợp tác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.[57] Cụ thể hơn, về tư duy, ngoài việc đảm bảo thực hiện đường lối ngoại giao bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc độc lập tự chủ, Việt Nam cũng cần chuyển biến tư duy mạnh mẽ hơn từ tham dự sang chủ động tham gia nhằm vươn lên đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng, định hình quan hệ đa phương và chính trị. Song song với đó, trong biện pháp ngoại giao, nước ta cũng phải chủ động nắm bắt cơ hội và sẵn sàng tham gia những đề xuất mới phù hợp nhu cầu hiện tại như chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo để đối mặt với nhiều thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống khác. Cuối cùng, về tổ chức thực hiện, Việt Nam cần đảm bảo có sự phối hợp chặt chẽ giữa trong và ngoài cũng như nâng cao chất lượng, tính chủ động trong công tác nghiên cứu, tham mưu trước bức trình diễn đàn khu vực ngày càng mang tính liên thông và chuyên ngành.

Ngoài ra, nước ta cũng ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của đối ngoại an ninh – quốc phong như một “cánh tay kết nối dài” của đối ngoại Nhà nước, dần mở ra cơ hội cũng như tạo nền tảng cho một thời kỳ phát triển mới. Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng đã nhận định việc nước ta tích cực tham gia vào các hoạt động đối ngoại quốc phòng sẽ phần nào giúp ta có thể nâng cao vị thế và tự tin hơn trong kỷ nguyên mới này. Không chỉ thế, việc tăng cường đối ngoại quốc phòng cũng giúp tăng uy tín của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế. Một số ví dụ nổi bật như việc phát hiu Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng ADMM+ hay cử hơn 1100 lượt quân nhân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình, lực lượng quân y, lực lượng công binh của Liên Hợp Quốc. Ở một mặt khác, việc mở rộng quan hệ quốc phòng cũng đã giúp ta giữ gìn an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Việc ngăn ngừa và loại bỏ các nguy cơ xung đột càng sớm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xuất hiện nhiều bất ổn toàn cầu. Cũng theo nhận định của Thiếu tướng, trước tình hình thế giới càng phân chia thành từng khối, việc nước ta chủ động thiết lập ngoại giao với tất cả các cực, điển hình như quan hệ trụ cột với cả 5 quốc gia Ủy viên Thường trực Hội đồng an Liên Hợp Quốc, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao tiềm lực vị thế đất nước.[58] Ngoài đa dạng hóa quan hệ hợp tác theo hướng “thêm bạn, bớt thù”, Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gắn liền hội nhập quốc tế về quốc phòng với chiến lược tổng thể của đối ngoại Đảng qua việc triển khai chính sách quốc phòng “bốn không” để gia tăng được hợp tác và tránh bị lôi kéo vào tình thế xung đột hay đối đầu.[59]

Cuối cùng, yếu tố về văn hóa cũng là điểm nổi bật trong quá trình nâng tầm vị thế quốc gia, bảo đảm đất nước ta phát triển toàn diện về mọi mặt. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế đã đề ra yêu cầu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm khẳng định được vị thế và thương hiệu văn hóa toàn cầu. Một thương hiệu văn hóa tốt không chỉ tăng được uy tín quốc gia mà đồng thời được xem như một hình thức “quyền lực mềm” thúc đẩy ngoại giao công chúng làm tăng mức độ đầu tư. Để thực hiện được điều này, thương hiệu văn hóa cần phải được hoạch định như một chiến lược lâu dài, nhất quán và có sự phối hợp giữa Nhà nước – doanh nghiệp – nhà sáng tạo. Cùng với đó, việc phát triển văn hóa cũng phải được xem là trụ cột của quốc gia với kế hoạch đầu tư, nghiên cứu rõ ràng cũng như gắn liền với các lĩnh vực khác để có một bức tranh phát triển thống nhất và toàn diện.[60]

Lê Thư, Dan Thuy, Sofia Vu, Như Nguyễn


Tài liệu tham khảo

[1] Ncqt. (2015). Hội nghị Yalta (Yalta Conference). Nghiên Cứu Quốc Tế. Truy cập ngày 23/8/2025. https://nghiencuuquocte.org/2015/09/05/hoi-nghi-yalta/

[2] Ban Tuyên giáo – Thành ủy TPHCM. (2021). 76 năm sự kiện phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh (15/8/1945 – 15/8/2021). Trang Tin Điện Tử Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 23/8/2025.

[3] Nguyễn Văn Toàn. (2023). Hào hùng thời khắc lịch sử – Báo Công an Nhân dân điện tử. Báo Công an Nhân Dân Điện Tử. Truy cập ngày 23/8/2025. https://cand.com.vn/tu-lieu-antg/hao-hung-thoi-khac-lich-su-i708337/

[4] Trần Minh Trưởng (2019). Nhận định thời cơ và chớp thời cơ khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám. Báo Nhân Dân Điện Tử. Truy cập ngày 23/8/2025. https://nhandan.vn/nhan-dinh-thoi-co-va-chop-thoi-co-khoi-nghia-trong-cach-mang-thang-tam-post545976.html

[5] Dương Đình Lập. (2022). Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa toàn quốc. https://www.qdnd.vn. Truy cập ngày 23/8/2025.

[6] Vũ Kim Yến, Tô Ngọc, Thông tấn xã Việt Nam. (2023). Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Dấu ấn thời đại. Truy cập ngày 23/8/2025

[7] Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9 trang 55. Truy cập ngày 24/8/2025.

[8] Kim Ngọc. (2015). Không thể phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Tám Sự thật về cái gọi là khoảng trống quyền lực”. https://www.qdnd.vn. Truy cập ngày 23/8/2025. https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-phu-nhan-gia-tri-cua-cach-mang-thang-tam-su-that-ve-cai-goi-la-khoang-trong-quyen-luc-258379

[9] Trường Giang. (2022). Sự thật về cái gọi là “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng Tháng Tám. VOV.VN. Truy cập ngày 23/8/2025. https://vov.vn/chinh-tri/su-that-ve-cai-goi-la-khoang-trong-quyen-luc-trong-cach-mang-thang-tam-post963662.vov

[10] Nguyễn Văn Toàn. (2023). Giá trị pháp lý và thực tiễn của bản Tuyên ngôn Độc lập – Báo Công an Nhân dân điện tử. Báo Công an Nhân Dân Điện Tử. Truy cập ngày 23/8/2025. https://cand.com.vn/kinh-te-van-hoa-the-thao/gia-tri-phap-ly-va-thuc-tien-cua-ban-tuyen-ngon-doc-lap-i705953/

[11] Nguyễn Huy Thục. (2014). Ứng phó với thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – vấn đề còn nguyên tính thời sự hiện nay. Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 24/8/2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/28684/ung-pho-voi-thu-trong%2C-giac-ngoai%2C-bao-ve-vung-chac-thanh-qua-cach-mang-thang-tam-nam-1945—van-de-con-nguyen-tinh-thoi-su-hien-nay.aspx

[12] Phạm Quang Minh (2018). Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986 – 2015). Nhà Xuất bản Thế giới.

[13] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2002). Ngoại giao Việt Nam 1945-2000. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. Truy cập ngày 24/8/2025.

[14] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2002). Ngoại giao Việt Nam 1945-2000. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. Truy cập ngày 24/8/2025.

[15] Trần Nam Tiến. Chính sách đối ngoại Việt Nam. Khoa Quan hệ Quốc tế. Tài liệu lưu hành nội bộ. Truy cập ngày 24/8/2025.

[16] Nguyễn Hồ Phong. (2022). Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế đất nước. Trang tin điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 1/9/2025.  https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/dang-cong-san-viet-nam-lanh-dao-cong-cuoc-doi-moi-kinh-te-dat-nuoc-1491890466

[17] Đỗ Thùy Dương. (2019). Quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 24/8/2025.

[18] Nguyễn Mạnh Hùng. (2015). Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển | Tư liệu văn kiện Đảng. Truy cập ngày 24/8/2025.

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam. (1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Truy cập ngày 24/8/2025.

[20] Dang Cam Tu. (2021). Vietnam’s 25 years of ASEAN membership and the stage ahead. (n.d.). COMMUNIST REVIEW. Truy cập ngày 24/8/2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/english/international/detail/-/asset_publisher/ZeaSwtFJtMgN/content/vietnam-s-25-years-of-asean-membership-and-the-stage-ahead

[21] Lê Hữu Nghĩa. (2015). Đại hội X của Đảng với nhận thức về con đường đi lên CNXH ở nước ta | Tư liệu văn kiện Đảng. Truy cập ngày 25/8/2025.

[22]Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU (2025). Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử – Đại hội lần thứ X: Tiếp tục bổ sung đường lối đổi mới và lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Quân đội nhân dân điện tử. Truy cập ngày 2/9/2025. https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/cac-ky-dai-hoi-cua-dang-va-nhung-dau-an-lich-su-dai-hoi-lan-thu-x-tiep-tuc-bo-sung-duong-loi-doi-moi-va-ly-luan-ve-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-814330

[23] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đảng toàn tập tập 65. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật. Truy cập ngày 2/9/2025. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/van-kien-dang-toan-tap/van-kien-dang-toan-tap-tap-65-369

[24] Phạm Bình Minh. (20 Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng. (n.d.).  Truy cập ngày 25/8/2025.

[25] Phạm Bình Minh. (2020). Việt Nam-Hoa Kỳ: 25 năm, một chặng đường. (n.d.). Cổng Thông Tin Bộ Ngoại Giao. Truy cập ngày 25/8/2025.

[26] Hai Hong Nguyen. (2025). Will Vietnam’s diplomacy influence political reforms at home? – FPIF. Foreign Policy in Focus. Truy cập ngày 25/8/2025. https://fpif.org/will-vietnams-diplomacy-influence-political-reforms-at-home/

[27] BNG. (2019). Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình. baochinhphu.vn. Truy cập ngày 25/8/2025.

[28] Report on socio-economic situation in second quarter and six months of 2025. (2025). National Statistics Office of Vietnam. Truy cập ngày 25/8/2025. https://www.nso.gov.vn/en/data-and-statistics/2025/07/report-on-socio-economic-situation-in-second-quarter-and-six-months-of-2025/

[29] Nguyen Le. (2025.). Vietnam posts 7.52% GDP growth in H1 2025, highest since 2011. VietNamNet News. Truy cập ngày 25/8/2025.

[30] World Bank Group. (2025). Viet Nam’s Economy Forecast to Grow 6.8 Percent In 2025: WB. World Bank. Truy cập ngày 25/8/2025.

[31] World Bank Group. (2024). World Bank report outlines path to high income for Viet Nam through higher value trade and economic reforms. World Bank. Truy cập ngày 25/8/2025.

[32] OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025: Harnessing trade and investment flows to boost productivity. (2025). OECD. Truy cập ngày 25/8/2025.

[33] Xaydungchinhsach.Chinhphu.Vn. (2025). CHỈ ĐẠO MỚI NHẤT CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ SẮP XẾP ĐVHC, VẬN HÀNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP. xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 25/8/2025.

[34] Counsel, I. (2025). Special alert | Vietnam’s Resolution 68 and the future of doing business. Indochine Counsel. Truy cập ngày 25/8/2025. https://indochinecounsel.com/special-alert-vietnams-resolution-68-and-the-future-of-doing-business

[35] Analysts, V. (2025). Resolution 68: A new dawn for Vietnam’s private sector. theinvestor.vn. Truy cập ngày 25/8/2025. https://theinvestor.vn/resolution-68-a-new-dawn-for-vietnams-private-sector-d15668.html

[36] World Bank Group. (2024). World Bank report outlines path to high income for Viet Nam through higher value trade and economic reforms. World Bank. Truy cập ngày 25/8/2025. https://www.worldbank.org/en/news/press-release/2024/11/21/world-bank-report-outlines-path-to-high-income-for-viet-nam-through-higher-value-trade-and-economic-reforms

[37] Resolutions 57 and 68 poised to drive private sector growth. (n.d.). vietnamnews.vn. Truy cập ngày 25/8/2025. https://vietnamnews.vn/economy/1719592/resolutions-57-and-68-poised-to-drive-private-sector-growth.html

[38] VietNamNet News. (n.d.). Party chief highlights four resolutions as pillars for Vietnam’s takeoff. VietNamNet News. Truy cập ngày 25/8/2025. https://vietnamnet.vn/en/party-chief-highlights-four-resolutions-as-pillars-for-vietnam-s-takeoff-2402572.html

[39] Resolutions 57 and 68 poised to drive private sector growth. (n.d.). vietnamnews.vn. Truy cập ngày 25/8/2025. https://vietnamnews.vn/economy/1719592/resolutions-57-and-68-poised-to-drive-private-sector-growth.html

[40] VietNam Economic Times. (2025). Institutional reform advanced for sustainable growth. Truy cập ngày 25/8/2025. https://en.vneconomy.vn/institutional-reform-advanced-for-sustainable-growth.html

[41] Vietnam+. (202). OP-ED: “Four pillars” for Vietnam’s rise: Turning institutions, laws into competitive advantage. Vietnam+ (VietnamPlus). Truy cập ngày 25/8/2025. https://en.vietnamplus.vn/op-ed-four-pillars-for-vietnams-rise-turning-institutions-laws-into-competitive-advantage-post321034.vnp

[42] Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và những yêu cầu lịch sử. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản.

https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-va-nhung-yeu-cau-lich-su 29/8

[43] Nam, H. Y. T. B. T. C. V. (2025). Kinh tế Việt Nam sẽ bứt phá mạnh mẽ năm 2025. Thời Báo Tài Chính Việt Nam.

https://thoibaotaichinhvietnam.vn/kinh-te-viet-nam-se-but-pha-manh-me-nam-2025-168809-168809.html 29/8

[44] Thủy, T. (2025) Kiến tạo nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số.” Báo Nhân Dân Điện Tử. Truy cập ngày 29/8/2025.

[45] Thitruongtaichinhtiente.Vn. (2025). 3 đột phá chiến lược để đưa kinh tế tư nhân thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. thitruongtaichinhtiente.vn. Truy cập ngày 29/8/2025.

[46] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng | Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Truy cập ngày 29/8/2025.

[47] Minh, B. (2025 Đột phá nguồn nhân lực – chìa khóa để Việt Nam bước vào chu kỳ tăng trưởng mới. Thời Báo Ngân Hàng. Truy cập ngày 29/8/2025.

[48] Tạp chí cộng sản. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 29/8/2025.

[49] Xaydungchinhsach.Chinhphu.Vn. (2025). Kinh tế Việt Nam 2025: NẮM BẮT XU HƯỚNG, TẬN DỤNG THỜI CƠ, LÀM MỚI ĐỘNG LỰC TIÊU DÙNG THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG. xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 29/8/2025.

[50] Tạp chí cộng sản. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 29/8/2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1047302/kinh-te-viet-nam-nam-2024-va-trien-vong-nam-2025.aspx

[51] H, N. (2025). Việt Nam trước ngưỡng cửa tăng trưởng hai con số: Cần đột phá về thể chế và nguồn lực tài chính. Nhịp Sống Kinh Tế Việt Nam & Thế Giới. Truy cập ngày 30/8/2025. https://vneconomy.vn/viet-nam-truoc-nguong-cua-tang-truong-hai-con-so-can-dot-pha-ve-the-che-va-nguon-luc-tai-chinh.htm

[52] Nam, H. Y. T. B. T. C. V. (2025). Kinh tế Việt Nam sẽ bứt phá mạnh mẽ năm 2025. Thời Báo Tài Chính Việt Nam. Truy cập ngày 30/8/2025.

[53] Đổi mới tư duy về đối ngoại, nhận thức về tình hình thế giới, khu vực và vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 30/8/2025.

[54] Chặng đường 80 năm vẻ vang của nền ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước. (n.d.). Cổng Thông Tin Bộ Ngoại Giao. Truy cập ngày 30/8/2025.

[55] Đổi mới tư duy về đối ngoại, nhận thức về tình hình thế giới, khu vực và vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản.  Truy cập ngày 30/8/2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/doi-moi-tu-duy-ve-doi-ngoai-nhan-thuc-ve-tinh-hinh-the-gioi-khu-vuc-va-vi-the-cua-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc

[56] Đình, H. (2025). Đối ngoại nâng tầm vị thế. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 30/8/2025.

[57] Chặng đường 80 năm vẻ vang của nền ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước. (n.d.). Cổng Thông Tin Bộ Ngoại Giao. Truy cập ngày 30/8/2025.

[58] Vov, B. Đ. T. (2025). Quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, vị thế mới để Việt Nam vươn mình. VOV.VN. Truy cập ngày 30/8/2025. https://vov.vn/chinh-tri/quan-he-quoc-phong-voi-hon-100-quoc-gia-vi-the-moi-de-viet-nam-vuon-minh-post1162551.vov

[59] Tạp chí cộng sản. (n.d.). Tạp Chí Cộng Sản. Truy cập ngày 31/8/2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1087802/hop-tac-va-hoi-nhap-quoc-te-ve-quoc-phong-cua-viet-nam-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx

[60] Viên, N. P. (2025). Khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Thương hiệu văn hóa gia tăng uy tín quốc gia. Báo Nhân Dân Điện Tử. Truy cập ngày 30/8/2025. https://nhandan.vn/khang-dinh-vi-the-van-hoa-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-thuong-hieu-van-hoa-gia-tang-uy-tin-quoc-gia-post889560.html

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *