Mục lục
Giới thiệu
Ngày 28/7/2025 là một cột mốc quan trọng ghi dấu tròn 30 năm Việt Nam chính thức tham gia vào ASEAN. Với khẳng định mạnh mẽ trong đường lối ngoại giao cây tre rằng mình là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn sẵn sàng tham gia và đóng góp tích cực tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn đa phương toàn cầu và khu vực.[1] Trong đó, ASEAN luôn là đối tác đa phương có mối quan hệ gắn bó trực tiếp nhất, thân thiết nhất với Việt Nam.[2] Đáp lại, Việt Nam luôn tích cực và nghiêm túc cùng ASEAN đưa các quyết sách vào triển khai với tầm nhìn rộng lớn, nhiều sáng kiến đột phá trên mọi lĩnh vực với mức độ và phạm vi ngày càng sâu rộng.[3] Chính vì vậy, việc kỷ niệm 30 năm quan hệ Việt Nam-ASEAN là một dịp ý nghĩa để cùng nhìn lại hành trình hợp tác và phát triển của hai bên.
1. Bối cảnh – Tổng quan quan hệ 30 năm
1.1. Giai đoạn 1975–1978: Tiếp xúc ban đầu, chưa thiết lập quan hệ chính thức
Vào ngày 8/8/1976, năm nước gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã chính thức ký kết Tuyên bố ASEAN (hay còn gọi là Tuyên bố Bangkok) thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Hiệp hội được thành lập với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, giáo dục, vì hòa bình và an ninh khu vực, tránh sự can thiệp từ bên ngoài. Trong đó, mục tiêu chủ yếu về chính trị mà ASEAN đề ra là “Thúc đẩy hòa bình, ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực, tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc”.[4] Lúc bấy giờ, Việt Nam chỉ vừa thống nhất đất nước không lâu, đang trong quá trình phục hồi đất nước sau chiến tranh. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV, chính sách đối ngoại Việt Nam thể hiện tinh thần ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Đông Nam châu Á vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và trung lập thật sự, chứ chưa tập trung xây dựng mối quan hệ gắn bó với các nước ASEAN.[5]
Ngày 24/2/1976, tại Hội nghị thượng đỉnh ở Bali, các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), khẳng định mục tiêu thúc đẩy hòa bình, hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ quyền và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ. Ngày 5/7/1976, Việt Nam công bố chính sách bốn điểm, với nội dung có nhiều điểm tương đồng với TAC, thể hiện rõ lập trường độc lập, không liên kết và chống can thiệp từ bên ngoài. Điều 1 trong chính sách của Việt Nam tương ứng với điều 2a của TAC, nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Đặc biệt, điều 2 trong chính sách của Việt Nam nêu rõ: “Không để lãnh thổ nước mình cho bất cứ nước ngoài nào sử dụng làm căn cứ xâm lược và can thiệp vào các nước trong khu vực”, thể hiện cam kết trung lập, giúp trấn an lo ngại của ASEAN về nguy cơ Việt Nam lợi dụng vị thế để mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội. Sự tương đồng giữa TAC và chính sách bốn điểm đã tạo nền tảng gắn kết Việt Nam với ASEAN, thể hiện tầm nhìn chung về một khu vực độc lập, hòa bình và hợp tác.
Tuy vậy, đến năm 1978, ngoài việc đối mặt với khó khăn trong khắc phục hậu quả sau chiến tranh, Việt Nam còn phải gồng mình với hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới xảy ra liên tiếp với nhau sau một vài năm. Lúc này, Việt Nam đã từng cố gắng xây dựng mối quan hệ với các nước ASEAN nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ, nhưng vì vấn đề Pol Pot và cuộc kháng chiến bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam tạo ra những hiểu lầm đã khiến ASEAN thời điểm đó nhìn nhận hành động của Việt Nam là tiêu cực. Sau đó, Việt Nam cũng nỗ lực mở rộng đàm phán với Mỹ, và Mỹ cũng có những dấu hiệu muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam. Tuy nhiên, do chưa đạt được thỏa thuận về nội dung các hỗ trợ sau chiến tranh với Mỹ, cùng với việc Mỹ bấy giờ đang dần quay sang hợp tác với Trung Quốc trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, ta đã không thể đạt được sự hợp tác như kỳ vọng trong quan hệ Việt-Mỹ. Trước tình hình đó, tháng 6/1978, Việt Nam chọn phải chọn nghiêng về phía Liên Xô để gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV) do Liên Xô đứng đầu nhằm nhận được sự hỗ trợ tái thiết đất nước sau chiến tranh. Cùng năm, Việt Nam cũng ký với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trong đó có điều khoản 6 ghi rõ “Trong trường hợp một trong hai Bên bị tấn công hoặc bị đe dọa tiến công thì hai Bên ký kết Hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau nhằm loại trừ mối đe dọa đó và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước”.[6] Đây được xem là một điều khoản trong hiệp định tương trợ đã gây tranh cãi và tác động tiêu cực đến hình ảnh của Việt Nam. Theo đó, sau Hiệp ước 1978 giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên Xô lúc này đã hỗ trợ cho Việt Nam các khoản cho vay, tín dụng thương mại, đào tạo kỹ thuật, các dự án hỗ trợ, trợ giá với hàng loạt các công trình như Cơ khí Hà Nội, Cẩm Phả, Sông Công; thủy điện Thác Bà, Sông Đà, Trị An; mỏ than Mông Dương, Apatite Lào Cai, hóa chất Lâm Thao, dầu khí Việt – Xô, Bệnh viện và Nhà văn hóa hữu nghị Việt-Xô, Bách khoa Hà Nội, cầu Thăng Long…[7] Đáp lại, Việt Nam ký thỏa thuận cho Liên Xô thuê cảng Cam Ranh làm căn cứ quân sự trong 25 năm. Ngay sau khi ký kết, hình ảnh và cam kết trong Chính sách 4 điểm của Việt Nam suy giảm. Vì vậy, mặc dù việc hợp tác với Liên Xô phần nào giúp Việt Nam có thêm sự hỗ trợ trong quá trình tái thiết đất nước, nhưng đồng thời làm suy yếu mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với nhiều nước khác, đặc biệt là các nước ASEAN vì họ cho rằng Việt Nam đang đi ngược với chính sách trung lập của mình, ngả hẳn về phía Liên Xô.
1.2. Giai đoạn 1979 – 1989: Căng thẳng và đối đầu
Giai đoạn từ năm 1979 đến 1989, Việt Nam trải qua nhiều căng thẳng trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là với các nước ASEAN mà nguyên nhân chủ yếu đến từ vấn đề Polpot. Cụ thể, năm 1978, lực lượng Khmer Đỏ đã tiến hành một cuộc tấn công lớn từ biên giới Tây Nam vào Việt Nam. Nhận thấy tình hình không thể đàm phán, Việt Nam đã đưa quân sang hỗ trợ nhằm giải phóng nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Thêm nữa, dựa vào tình hình thực tế và yêu cầu của lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, Việt Nam tiếp tục đóng quân tại Campuchia đến năm 1989 mới rút hết toàn quân về nước. Vào thời điểm đó, Việt Nam vẫn duy trì chính sách đối ngoại chống Mỹ, cộng thêm quan hệ không tốt với Trung Quốc và việc đóng quân ở Campuchia, các nước ASEAN càng có phản ứng dữ dội hơn. Lúc này, ASEAN dưới sự kêu gọi của Trung Quốc đã phối hợp với Mỹ và nhiều nước phương Tây bao vây, cô lập Việt Nam nhằm gây áp lực để Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Dù khó khăn, giai đoạn này vẫn chứng kiến những nỗ lực nhằm tiến tới hòa hoãn và xây dựng hòa bình cho khu vực. Chẳng hạn, vào tháng 9/1981, ba nước Đông Dương trình Đại hội Đồng Liên hợp quốc đề nghị về bảy nguyên tắc chỉ đạo quan hệ cùng tồn tại hòa bình giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Đến đầu năm 1984, Hội nghị Ngoại trưởng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đưa ra giải pháp về hòa bình và ổn định Đông Nam Á, thỏa thuận về nguyên tắc quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN nhằm đảo bảo và giám sát quốc tế. Cùng với đó, một số nước như Indonesia, Malaysia duy trì đối thoại và tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp cao với nước ta. Sau đó, tình hình trở nên bớt căng thẳng vào năm 1988-1989 khi Việt Nam lần lượt rút toàn bộ quân khỏi Campuchia. Những nỗ lực này có ý nghĩa quan trọng để hai bên hiểu nhau hơn và tiến tới những hợp tác sâu rộng về sau.
1.3. Giai đoạn 1990 – 2010: Hòa giải và hội nhập khu vực
Khi các nước lớn đi vào hoà dịu, hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia và từ sau khi Việt Nam bắt đầu rút dần quân tình nguyện khỏi Campuchia, các nước ASEAN chuyển thái độ, dần dần tách khỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho chính quyền Khơ Me Đỏ để đi vào đối thoại với Việt Nam.[8] Ngày 28/8/1990, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua các văn kiện Hiệp định Paris về Campuchia, từ đó mối quan hệ giữa Việt Nam với nhiều quốc gia, tổ chức dần cải thiện, trong đó có ASEAN.
Suốt quá trình sau đó, Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động của đến ASEAN, chuẩn bị cho việc gia nhập chính thức. Tháng 7/1992, Việt Nam đã tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và trở thành quan sát viên của ASEAN. Đến 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) ở thủ đô Bandar Seri Begawan, Brunei.[9] Việc gia nhập ASEAN có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam nói riêng và với cả khu vực Đông Nam Á nói chung. Từ đây, Việt Nam được mở ra nhiều cơ hội hơn nhằm hợp tác và phát triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong hợp tác nâng cao năng lực kinh tế, văn hóa – xã hội, góp phần tiến tới xây dựng một khu vực hòa bình, gắn kết, sẻ chia. Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập ASEAN cùng sự giúp đỡ tích cực cũng thúc đẩy tiến trình tham gia vào ASEAN của Lào và Campuchia sau này. Đặc biệt, chỉ sau hơn 3 năm gia nhập, Việt Nam đã chủ trì thành công Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Hà Nội, ghi dấu sự đóng góp ý nghĩa và chứng tỏ năng lực quốc gia.
Năm 2010, Việt Nam lần đầu đảm nhận vai trò chủ tịch Hội đồng ASEAN và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN 17 cùng nhiều Hội nghị Cấp cao liên quan. Trong giai đoạn đó, Việt Nam chủ động thúc đẩy các nước ASEAN tập trung bàn bạc và đưa ra các quyết sách để đẩy nhanh việc thực hiện Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trên cả 3 trụ cột. Đồng thời, các cơ chế đối thoại và hợp tác về chính trị-an ninh khu vực, nhất là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tiếp tục hoạt động mạnh mẽ và được bổ sung với nhiều cơ chế mới. Đặc biệt, tháng 10/2010, Việt Nam đã chủ trì thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng đầu tiên (ADMM+) tại Hà Nội.[10] Thành công của một năm làm chủ tịch đã nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam, góp phần gắn kết hơn quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN.
1.4. Giai đoạn 2011-nay: Là thành viên “tích cực, chủ động và có trách nhiệm” của ASEAN
Kể từ sau kỷ niệm 15 năm quan hệ Việt Nam-ASEAN cùng một nhiệm kỳ làm chủ tịch thành công, Việt Nam càng tự tin khẳng định mình là thành viên “chủ động, tích cực, có trách nhiệm” với cộng đồng ASEAN.[11] Ngày 11-13/9/2018, Việt Nam và Diễn đàn Kinh tế thế giới phối hợp tổ chức Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) năm 2018 với chủ đề “ASEAN 4.0: Tinh thần doanh nghiệp và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Từ đây, Việt Nam thể hiện sự đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào những vấn đề quan tâm chung trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang bùng nổ toàn cầu.[12] Đến năm 2020, Việt Nam tiếp tục đảm nhận vai trò chủ tịch ASEAN lần thứ hai. Dấu mốc này đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam phải nỗ lực thúc đẩy hợp tác trong bối cảnh đại dịch COVID-19 ở khu vực Đông Nam Á rơi vào giai đoạn căng thẳng. Với chủ đề năm 2020, “ASEAN Gắn kết và chủ động thích ứng”, Việt Nam đã tổ chức thành công 3 lần họp Cấp cao ASEAN bằng hình thức trực tuyến. Đồng thời, Việt Nam còn thúc đẩy đối thoại với các đối tác như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, New Zealand, Australia, Liên minh châu Âu và nhận được nhiều cam kết đóng góp tài chính cho nỗ lực chung chống đại dịch. Cuối nhiệm kỳ, Việt Nam ghi dấu bằng việc tổ chức thành công lễ ký kết theo hình thức trực tuyến Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), đặt ra kỳ vọng là hiệp định thương mại tự do (FTA) có quy mô lớn nhất thế giới mang lại lợi ích lớn cho tất cả các nước thành viên.[13]
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến khó lường tại Đông Nam Á, năm 2021, Việt Nam tiếp tục tích cực đóng góp bằng các sáng kiến về phân phối vắc‑xin, thành lập Trung tâm ASEAN về tình huống y tế khẩn cấp. Tính đến tháng 8/2021, có 40/185 sáng kiến trong Khung phục hồi tổng thể đã hoàn tất, 134 sáng kiến đã và đang được triển khai, 11 sáng kiến tiếp tục được triển khai trong các năm tới.[14]
Ngày 23/4/2024, Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) tại Hà Nội. Trong đó có 230 đại biểu quốc tế, tăng gấp 2,5 lần so với lần đầu tiên diễn đàn được tổ chức vào năm 2024. Đại sứ Liên minh châu Âu (EU) tại ASEAN Sujiro Seam, nhận định rằng những đóng góp của Việt Nam, cùng với vai trò là một trong hai quốc gia trong ASEAN (cùng với Singapore) có hiệp định thương mại tự do với EU, sẽ mang lại lợi thế cho Việt Nam trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa ASEAN và EU, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại và chuyển đổi năng lượng.[15] Mới đây, ngày 27/3/2025, Việt Nam đồng chủ trì cuộc họp Ủy ban Hợp tác chung ASEAN-Anh lần thứ 4. Thông qua dịp này, hợp tác giữa Anh và các nước ASEAN càng sâu rộng và mở ra thêm nhiều lĩnh vực khác như Phụ nữ, Hòa bình và An ninh, hợp tác Khoa học – Công nghệ và Kinh tế Sáng tạo.[16]
Ba thập niên kể từ khi chính thức gia nhập ASEAN vào năm 1995, Việt Nam đã có một hành trình nhiều dấu ấn. Từ những ngày đầu sau chiến tranh với lập trường đối ngoại độc lập, trung lập, sau đó là giai đoạn căng thẳng vì vấn đề Campuchia khiến Việt Nam rơi vào thế cô lập, đến quá trình hòa giải và bây giờ là thành viên tích cực. Việc gia nhập ASEAN năm 1995 là bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập thực chất và sâu sắc của Việt Nam vào khu vực, mở ra cơ hội hợp tác toàn diện trên cả ba trụ cột chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội. Từ việc chủ trì nhiều hội nghị cấp cao, đóng vai trò trung tâm trong các sáng kiến khu vực, đến việc thúc đẩy các đối thoại chiến lược với đối tác lớn, Việt Nam đã chứng minh được bản lĩnh, tầm vóc và vai trò kiến tạo trong ASEAN. Kỷ niệm 30 năm quan hệ Việt Nam – ASEAN là dịp để nhìn lại chặng đường vượt qua hiểu lầm, khác biệt vì một Đông Nam Á gắn kết, năng động và phát triển bền vững.
2. Sự phát triển quan hệ Việt Nam-ASEAN qua 30 năm theo từng lĩnh vực
2.1. Kinh tế
Trong 30 năm qua, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995, quan hệ kinh tế giữa hai bên đã không ngừng được củng cố và mở rộng trên nhiều phương diện. Về thương mại, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN đã tăng trưởng mạnh mẽ. ASEAN đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ tư và đối tác nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt 33,8 tỷ USD, nhập khẩu đạt 42,4 tỷ USD và giá trị thương mại song phương tăng 18 lần từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN.[17] Về cơ cấu mặt hàng, giai đoạn đầu Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nông sản, thủy sản, dệt may và nhập khẩu xăng dầu, phân bón, máy móc thiết bị. Dần dần, cơ cấu này đã dịch chuyển theo hướng đa dạng hóa và nâng cao giá trị. Các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất hiện nay là máy móc cơ khí, nhiên liệu, sắt thép và ngũ cốc,… với thiết bị điện tử là nhóm hàng có kim ngạch cao nhất và tăng trưởng mạnh nhất.[18] Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là thiết bị điện tử, nhiên liệu khoáng, máy móc công nghiệp, nhựa, phương tiện vận tải,… Sự chuyển dịch này cho thấy Việt Nam đã từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực, từ vai trò cung cấp nguyên liệu thô sang sản xuất các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn.
Việt Nam cũng tăng cường quan hệ thương mại song phương với các nước trong ASEAN, đặc biệt là các quốc gia đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam như Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan. Singapore là thị trường có quan hệ thương mại và đầu tư hàng đầu trong quan hệ của nước ta với các nước ASEAN. Tiếp theo là Thái-lan (với kim ngạch thương mại năm 2003 là 1,616 tỷ US). Tương tự với Malaysia 1,386 tỷ USD và 1,250 tỷ USD, Indonesia 1,018 tỷ USD và 123 triệu USD, Philippines 489 triệu USD và 228 triệu USD, Lào 111 triệu USD và 16 triệu USD…[19] Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN, đặc biệt là với Singapore, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, đã đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những mối quan hệ này không chỉ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn tạo cơ hội cho việc chuyển giao công nghệ, đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp chiến lược. Việc củng cố và mở rộng các mối quan hệ này sẽ tiếp tục là động lực quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững của Việt Nam trong khu vực ASEAN và trên thế giới.
Việc ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do nội khối và giữa ASEAN với các đối tác cũng là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN. Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tích cực tham gia vào Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) thông qua Chương trình Thuế quan Ưu đãi Có hiệu lực chung (CEPT) nhằm xóa bỏ thuế quan và rào cản phi thuế giữa các nước ASEAN để thúc đẩy thương mại nội khối.[20] Kết quả, đến năm 2015, Việt Nam đã đưa thuế suất về 0-5% đối với khoảng 90% số dòng thuế, chỉ được linh hoạt giữ thuế suất đối với 7% số dòng thuế còn lại tới năm 2018. Đồng thời, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam từ 1995 đến 2015 đã tăng gấp 12 lần, từ 3.5 tỷ USD lên 42 tỷ USD.[21]
Năm 2009, ASEAN nâng cấp AFTA thành Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), tích hợp tất cả cam kết về hàng hóa vào một văn kiện duy nhất. Mục tiêu mà Hiệp định này hướng đến là hài hòa hóa quy tắc về xuất xứ, thủ tục hải quan, hàng rào kỹ thuật, các biện pháp SPS (an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm dịch động thực vật).[22] Điều này giúp gia tăng tính minh bạch, hiệu lực pháp lý và tính bắt buộc của các cam kết thương mại.[23] Qua đó, giúp loại bỏ thuế quan cho 98,6% biểu thuế, giảm chi phí sản xuất và thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực.[24] RCEP (2020), khối thương mại lớn nhất thế giới, mang lại cơ hội kết nối sâu rộng cho Việt Nam, dự báo GDP Việt Nam có thể tăng thêm 4,9% vào năm 2030, xuất khẩu tăng 11,4% nhờ các cam kết từ các FTA ASEAN (World Bank, 2021).
Bên cạnh AFTA, Việt Nam còn tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng trong khu vực ASEAN, như ASEAN-Australia-New Zealand FTA (AANZFTA), ASEAN-China Free Trade Area (ACFTA),…Các FTA này không chỉ tạo ra cơ hội cho Việt Nam trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn thúc đẩy các ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt là sản xuất công nghiệp và nông sản. Đặc biệt, Hiệp định RCEP được ký kết vào cuối năm 2020, đã tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn với hơn 30% GDP toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia được hưởng lợi lớn từ RCEP, với cơ hội mở rộng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo ASEAN Secretariat (2020), việc tham gia RCEP giúp Việt Nam giảm chi phí giao dịch, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc gia tăng cạnh tranh và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.[25]
Quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN cũng đã phát triển mạnh mẽ trong 30 năm qua, trở thành trụ cột quan trọng trong hợp tác kinh tế khu vực. Nhìn lại kết quả thu hút FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam thời gian qua có thể thấy ASEAN là khu vực để Việt Nam thu hút và bổ sung vốn đầu tư toàn xã hội và lượng vốn FDI từ ASEAN luôn tăng qua các năm. Việc gia nhập AFTA đã mở ra nhiều cơ hội thu hút vốn FDI từ các nước nội khối. Tuy nhiên, giai đoạn 1997 – 2006, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam có tăng nhưng không như kỳ vọng bởi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997. Đến năm 2008, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam đạt hơn 2,7 tỷ USD. Giai đoạn 2009 – 2016 dòng vốn này đã tăng gấp hơn 3 lần so với giai đoạn 1997 – 2006.[26] Giai đoạn từ 2016 đến nay, đặc biệt sau khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành, FDI từ ASEAN vào Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ.
Hiện nay, ASEAN là đối tác đầu tư lớn nhất của Việt Nam, với sự tham gia của các quốc gia như Singapore, Thái Lan và Malaysia trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Tính đến cuối tháng 7/2020, vốn FDI đăng ký của các nhà đầu tư từ ASEAN đạt gần 82,2 tỷ USD, chiếm 21,6 % tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam. Quy mô bình quân một dự án đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam là 19,9 triệu USD cao hơn mức trung bình các dự án FDI vào Việt Nam.[27] Trong 11 tháng đầu năm 2024, các quốc gia ASEAN đã đầu tư 9,52 tỷ USD vào Việt Nam. Trong đó, Singapore dẫn đầu khối ASEAN về vốn đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn lên tới 9,13 tỷ USD, tiếp theo là Thái Lan với 178,52 triệu USD và Malaysia với 159,98 triệu USD,…[28] Các dự án này không chỉ tạo ra hàng triệu việc làm, mà còn góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. FDI từ ASEAN là động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và nâng cao năng lực cạnh tranh. Không chỉ là điểm đến của FDI, Việt Nam cũng đã trở thành một nhà đầu tư vào các nước ASEAN, thể hiện vai trò ngày càng chủ động trong khu vực. Giai đoạn đầu, ODI của Việt Nam vào ASEAN còn khiêm tốn, chủ yếu là các dự án nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ tại Lào và Campuchia. Trong năm 2024, các nước thu hút đầu tư của Việt Nam nhiều nhất trong ASEAN lần lượt là Lào (chiếm 28,8% vốn, tăng 62,2% so với năm 2023) và Indonesia (chiếm 20,7% vốn, gấp 227 lần năm 2023).[29] Việc đầu tư ra nước ngoài vào ASEAN không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận nguồn lực mới, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của họ trên trường quốc tế.
Xây dựng cơ sở hạ tầng, kết nối khu vực và tham gia chuỗi cung ứng là những yếu tố then chốt thúc đẩy hội nhập kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng phục hồi của cả khu vực. Hợp tác phát triển hạ tầng giao thông kết nối Việt Nam với các nước ASEAN là ưu tiên hàng đầu với việc triển khai các dự án đường bộ, đường sắt, cảng biển và hàng không. Hơn nữa, các dự án phát triển các trung tâm logistics, đặc biệt là các khu vực logistics biên giới, đã giúp cải thiện khả năng vận chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN. Trong kết nối đường bộ, Việt Nam đã phát triển các hành lang kinh tế trong khuôn khổ Sáng kiến Liên kết ASEAN như Hành lang Kinh tế Đông Tây (EWEC) nối Đà Nẵng với Lào, Thái Lan và Myanmar,… Các dự án hạ tầng này đã giúp giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian giao nhận hàng hóa và thúc đẩy thương mại biên giới.[30] Mặt khác, sáng kiến như ASEAN Logistics Network được triển khai để cải thiện khả năng kết nối và giảm thiểu các rào cản thương mại trong khu vực. Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng lợi lớn từ những sáng kiến này, với sự cải thiện rõ rệt trong chất lượng dịch vụ logistics, bao gồm vận tải, kho bãi và các dịch vụ liên quan. Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển logistics và đã đưa ra nhiều chiến lược để hiện đại hóa ngành này. Cụ thể, Việt Nam đã chú trọng vào việc cải thiện hệ thống cảng biển, với các dự án như cảng quốc tế Long Thành và nâng cấp các sân bay lớn như Tân Sơn Nhất và Nội Bài.[31] Trong lĩnh vực hàng hải, hệ thống cảng biển của Việt Nam, đặc biệt là cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi logistics khu vực. Với khả năng tiếp nhận các tàu container lớn nhất thế giới, Cái Mép – Thị Vải không chỉ phục vụ xuất nhập khẩu của Việt Nam mà còn đóng vai trò là cảng trung chuyển cho hàng hóa từ Campuchia và một phần của Lào, tăng cường vai trò cửa ngõ ra biển của khu vực.[32] Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào các cảng trung chuyển bên ngoài ASEAN, tối ưu hóa chi phí và thời gian vận chuyển.
Trong ba thập kỷ kể từ khi gia nhập ASEAN vào năm 1995, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực kinh tế, thể hiện qua sự mở rộng quy mô hợp tác và nâng cao chất lượng quan hệ với các quốc gia trong và ngoài khu vực. Quan hệ kinh tế Việt Nam – ASEAN đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên các trụ cột chính như thương mại, đầu tư, cơ sở hạ tầng và logistics. Kim ngạch thương mại song phương tăng mạnh với ASEAN trở thành đối tác thương mại và đầu tư quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Trong đầu tư, ASEAN hiện là nguồn FDI lớn thứ hai vào Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng đã bắt đầu vươn ra đầu tư vào các nước ASEAN như Lào và Indonesia, khẳng định vai trò chủ động và vị thế ngày càng cao trong khu vực. Ngoài ra, hợp tác về hạ tầng và logistics, thông qua các sáng kiến như Hành lang Kinh tế Đông Tây, mạng lưới logistics biên giới và hệ thống cảng biển quốc tế, đã giúp tăng cường kết nối, tối ưu hóa chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Theo Giáo sư Chu Hoàng Long, Việt Nam là một trong những động lực kinh tế quan trọng nhất của ASEAN. Với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, Việt Nam góp phần nâng tầm vị thế kinh tế của cả hiệp hội trên bản đồ thế giới.[33] Quan hệ kinh tế Việt Nam – ASEAN không chỉ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam trong quá khứ mà còn là động lực chiến lược để Việt Nam vươn xa trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số hiện nay.
2.2. Chính trị – ngoại giao
Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho một ASEAN thống nhất, đoàn kết, hòa bình, ổn định và phát triển, có tiếng nói ở khu vực và được các nước lớn công nhận. Trong đó, duy trì hòa bình và ổn định là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển của bất kỳ khu vực nào, đây cũng là mục tiêu hàng đầu của ASEAN kể từ khi tổ chức này thành lập. Trong 30 năm qua, Việt Nam luôn có những đóng góp có trách nhiệm trong việc duy trì đoàn kết, thống nhất của ASEAN, khéo léo dung hòa và xử lý khác biệt nảy sinh giữa các nước. Việt Nam cũng tích cực cùng các nước thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, khách quan của ASEAN trong các vấn đề khu vực, quốc tế, nỗ lực xây dựng lập trường và tiếng nói chung của ASEAN đối với những vấn đề ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh khu vực.[34]
Trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN, vấn đề Campuchia là một trong những rào cản lớn nhất đối với sự đoàn kết và hợp tác khu vực. Sau sự kiện Việt Nam đưa quân tình nguyện vào Campuchia năm 1978 để lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, quan hệ giữa Việt Nam và một số nước ASEAN đã rơi vào căng thẳng. Nhận thức vấn đề đó, Việt Nam đã chọn các nước ASEAN mở đầu đối thoại nhằm sớm có giải pháp trong vấn đề Campuchia.[35] Việc giải quyết vấn đề Campuchia là một minh chứng rõ nét cho sự chuyển đổi trong quan hệ Việt Nam – ASEAN từ đối đầu sang hợp tác, và là tiền đề quan trọng cho việc Việt Nam gia nhập khối. Sự kiện Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia vào năm 1989 và việc ký kết Hiệp định Paris 1991 đã loại bỏ rào cản lớn nhất, giúp Việt Nam và ASEAN xích lại gần nhau hơn. Đây là một bước ngoặt lịch sử, không chỉ mang lại hòa bình cho Campuchia mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi để Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa và tiến tới gia nhập ASEAN vào năm 1995.
Hơn nữa, kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam luôn tích cực thúc đẩy giải quyết vấn đề tranh chấp tại biển Đông trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và quá trình đàm phán xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì đoàn kết và lập trường chung của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, tránh các hành động làm phức tạp tình hình và gia tăng căng thẳng. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 56 (AMM-56) vào tháng 7 năm 2023, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn đã tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy đàm phán COC, đồng thời kêu gọi các bên kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.[36]
Việt Nam còn là cầu nối, là thành viên có trách nhiệm đối với ASEAN trong việc kết nối, đoàn kết các thành viên. ngay sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy ASEAN kết nạp các nước Lào, Myanmar (năm 1997) và Campuchia (năm 1999), mặc dù phải đối mặt với không ít lực cản. Việt Nam đã trở thành cầu nối giữa khu vực Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo để đến năm 1999. Với sự tham gia của cả 10 nước trong khu vực, nghi kỵ giữa các dân tộc dần được xóa bỏ, khoảng cách phát triển giữa các quốc gia từng bước được thu hẹp, tinh thần tự chủ của khu vực cũng được nâng cao đáng kể.[37] Chính điều đó làm nên bản chất của ASEAN là một tập hợp lực lượng của các nước vừa và nhỏ trong khu vực Đông Nam Á, nhằm duy trì hòa bình và an ninh khu vực, nâng tầm vị thế của ASEAN trong quan hệ với các đối tác bên ngoài.[38] Theo Giáo sư Chu Hoàng Long tại Đại học Quốc gia Australia, điều này giúp ASEAN hoàn thiện cấu trúc “một Đông Nam Á” toàn diện, thay vì là một khối khu vực rời rạc, đồng thời tăng cường đoàn kết nội khối trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt.[39]
Bên cạnh việc thúc đẩy sự hòa bình, ổn định khu vực và thúc đẩy sự đoàn kết nội khối, Việt Nam còn tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN như một mục tiêu chiến lược. Vai trò của Việt Nam tiếp tục được thể hiện rõ nét qua những đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng các văn kiện định hướng lớn đưa ASEAN chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh liên kết và xây dựng cộng đồng như Tuyên bố Hòa hợp Bali II năm 2003, Chương trình Hành động Viêng Chăn (VAP) năm 2004, Hiến chương ASEAN năm 2007, Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009 – 2015, Kế hoạch công tác Sáng kiến Liên kết ASEAN…[40] cũng như Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và các kế hoạch tổng thể cho từng trụ cột. Hiến chương ASEAN, đã nâng tầm ASEAN thành một tổ chức dựa trên luật pháp, với tư cách pháp nhân và các quy định rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ của các thành viên.[41] Trong quá trình xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, Việt Nam đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường tính tự cường, khả năng thích ứng và vai trò chủ động của ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu. Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy các nguyên tắc và giá trị của ASEAN trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là thông qua các diễn đàn đa phương như Liên Hợp Quốc, APEC, và G20, nơi Việt Nam thường xuyên đại diện cho quan điểm chung của ASEAN về các vấn đề quan trọng.
Việt Nam còn thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN thông qua hai lần đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN. Năm 2010, với chủ đề “Hướng tới Cộng đồng ASEAN: Từ Tầm nhìn đến Hành động”, Việt Nam đã tập trung vào việc cụ thể hóa các mục tiêu của Cộng đồng ASEAN, đặc biệt là trong việc xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh và Cộng đồng Kinh tế. Năm 2020, Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN trong bối cảnh đầy thách thức của đại dịch COVID-19 và những biến động địa chính trị phức tạp. Với chủ đề “Gắn kết và Chủ động thích ứng”, Việt Nam đã thể hiện khả năng điều phối và dẫn dắt xuất sắc của mình. Việt Nam đã chủ động đề xuất và thúc đẩy các sáng kiến quan trọng nhằm ứng phó với đại dịch, bao gồm Quỹ ứng phó COVID-19 của ASEAN, Kho dự phòng vật tư y tế khu vực, và Khung phục hồi toàn diện ASEAN. Trong cả hai nhiệm kỳ, Việt Nam đã không chỉ hoàn thành tốt các nhiệm vụ thường niên mà còn đưa ra các sáng kiến mang tính đột phá, giải quyết những vấn đề cấp bách của khu vực. Thành công này không chỉ nâng cao uy tín của Việt Nam mà còn củng cố niềm tin của các đối tác bên ngoài vào khả năng của ASEAN trong việc duy trì sự gắn kết và vai trò trung tâm của mình trong cấu trúc khu vực đang thay đổi nhanh chóng.
Ngoài ra, Việt Nam cũng tăng cường phối hợp với ASEAN nhằm ứng phó hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, từ đó củng cố sự gắn kết và khả năng tự cường của khu vực. Trong lĩnh vực chống buôn bán ma túy, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các nước láng giềng như Lào và Campuchia trong các chiến dịch truy quét tội phạm ma túy xuyên biên giới, thu giữ hàng tấn ma túy và bắt giữ nhiều đối tượng.[42] Trong lĩnh vực an ninh biển, Việt Nam và các nước ASEAN đã tăng cường phối hợp trong quản lý và bảo vệ môi trường biển, chống đánh bắt cá trái phép, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Các cuộc tuần tra chung, chia sẻ thông tin về hoạt động đánh bắt cá và tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển là những hoạt động hợp tác cụ thể. Việt Nam đã chủ động đề xuất và tham gia các sáng kiến nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển, góp phần duy trì trật tự và an toàn hàng hải trong khu vực.[43]
Trong suốt 30 năm qua, quan hệ chính trị-ngoại giao giữa Việt Nam và ASEAN đã không ngừng được củng cố và phát triển, trở thành một trụ cột vững chắc góp phần định hình cục diện khu vực Đông Nam Á. Việt Nam từ một quốc gia từng có bất đồng với một số nước ASEAN, đã khéo léo chuyển mình trở thành một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm và ngày càng có ảnh hưởng trong việc xây dựng khối đoàn kết, thống nhất và tự cường. Với vai trò trung gian dung hòa khác biệt, thúc đẩy lập trường chung trong các vấn đề nhạy cảm như Biển Đông hay Campuchia, Việt Nam đã góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định khu vực Đông Nam Á. Không chỉ vậy, qua các nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN, Việt Nam còn thể hiện năng lực dẫn dắt và định hướng chiến lược, thúc đẩy các sáng kiến quan trọng về thể chế, an ninh phi truyền thống và tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN. Mối quan hệ này là minh chứng sống động cho thành công của chính sách đối ngoại đa phương, độc lập và chủ động của Việt Nam, đồng thời thể hiện niềm tin ngày càng lớn của khu vực và cộng đồng quốc tế vào vai trò của Việt Nam trong việc kiến tạo một ASEAN hòa bình, ổn định và vững mạnh.
2.3. Văn hóa – xã hội
Ngay từ khi thành lập, ASEAN đã xác định hợp tác văn hóa – xã hội là một trong những trọng tâm bên cạnh hòa bình, ổn định và phát triển kinh tế. Mối quan hệ này đã liên tục được mở rộng, nâng tầm qua thời gian và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng Văn hóa – Xã hội (ASCC). Do đó, trong suốt chặng đường 30 năm quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN, những yếu tố văn hóa – xã hội nhận được sự chú trọng từ hai bên.[44]
Trên tinh thần lấy người dân làm trung tâm, lấy cộng đồng làm nền tảng, hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN trong lĩnh vực này không ngừng được mở rộng, đem lại nhiều thành tựu thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân và thúc đẩy bản sắc chung khu vực.[45] Một trong những thành công nổi bật là việc Việt Nam chủ động lồng ghép các ưu tiên quốc gia vào các mục tiêu chung của ASCC, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như y tế, giáo dục, môi trường, an sinh xã hội và phát triển thanh niên. Việt Nam đã cùng các nước ASEAN triển khai hiệu quả Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN đến năm 2025, chú trọng thực hiện các chương trình hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia thành viên. Trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam đã đề xuất và thông qua nhiều văn kiện quan trọng, như Tuyên bố Hà Nội về Phúc lợi và Phát triển cho phụ nữ và trẻ em, Tuyên bố của Lãnh đạo ASEAN về phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng nghề, đồng thời phối hợp với các nước ASEAN xây dựng các tuyên bố liên quan đến an sinh xã hội, phòng chống bạo lực, phát triển thanh niên và quản lý thảm họa.[46] Nhiều sự kiện cấp cao trong khuôn khổ ASCC như Hội nghị Hội đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Thanh niên ASEAN, Bộ trưởng Văn hóa – Nghệ thuật, Y tế, Môi trường, cùng các hội thi tay nghề khu vực được tổ chức thành công không chỉ tăng cường hợp tác chuyên ngành mà còn giúp nâng cao vai trò và hình ảnh của Việt Nam trong ASEAN.
Trong lĩnh vực lao động và an sinh xã hội, Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị quan trọng như Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN, Hội nghị Phát triển nguồn nhân lực, Hội thi tay nghề ASEAN. Việt Nam tham gia xây dựng và thực hiện Chương trình công tác của các Bộ trưởng Lao động ASEAN, thúc đẩy công nhận kỹ năng lao động, bảo vệ quyền của lao động di cư. Trong lĩnh vực phúc lợi xã hội, Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch AMMSWD, tổ chức các hội nghị cấp cao và lồng ghép ưu tiên quốc gia về hỗ trợ nhóm yếu thế vào kế hoạch hành động khu vực. Đồng thời, Việt Nam có nhiều đóng góp trong thúc đẩy quyền phụ nữ và trẻ em, là quốc gia đề xuất thành lập Ủy ban ACWC và tham gia điều phối nhiều dự án của Ủy ban Phụ nữ ASEAN. Việt Nam cũng tổ chức thành công Lễ thành lập Mạng lưới Doanh nhân nữ ASEAN và tích cực lồng ghép vấn đề giới trong các lĩnh vực chính sách như lao động, an sinh xã hội và chính trị.[47]
Ngoài ra, Việt Nam còn đóng vai trò tích cực trong quảng bá văn hóa dân tộc tại khu vực thông qua cơ chế Ủy ban Văn hóa và Thông tin ASEAN (ASEAN-COCI). Việt Nam đã phát huy thế mạnh văn hóa truyền thống trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tích cực tham gia và đạt nhiều thành tích tại các sự kiện khu vực. Các đoàn nghệ thuật Việt Nam, như Đoàn ca múa nhạc Việt Nam và Đoàn nghệ thuật Đắk Lắk, đã để lại dấu ấn tại các liên hoan như Liên hoan múa các nước ASEAN hay Liên hoan Xylophone quốc tế tại Thái Lan, với các tiết mục sử dụng nhạc cụ dân tộc như đàn đá, cồng chiêng Ê-đê, chiêng kram. Việt Nam cũng tham gia “Dự án giới thiệu các chương trình nghệ thuật tiêu biểu của ASEAN”, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa khu vực. Bên cạnh việc tham dự, Việt Nam còn chủ động tổ chức nhiều sự kiện văn hóa quy mô ASEAN, tiêu biểu như: Liên hoan Giọng hát vàng Hà Nội – ASEAN (1996), Liên hoan Giai điệu bạn bè Việt Nam – ASEAN (1997), Hội thảo – trình diễn nghề dệt truyền thống ASEAN lần thứ 4 tại Thái Nguyên (2013). Đặc biệt, năm 2014, Việt Nam đăng cai Hội nghị Bộ trưởng Văn hóa – Nghệ thuật ASEAN lần thứ 6 và tổ chức Liên hoan nghệ thuật ASEAN tại Festival Huế, tạo nên không khí giao lưu sôi nổi tại sân khấu điện Thái Hòa, Đại Nội. Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia các sự kiện mở rộng như Liên hoan Nghệ thuật ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), góp phần quảng bá nghệ thuật truyền thống khu vực. Tháng 8/2015, Việt Nam tổ chức Liên hoan Âm nhạc truyền thống các nước ASEAN tại Thanh Hóa, một sáng kiến nhằm kỷ niệm 48 năm thành lập ASEAN và hướng tới Cộng đồng ASEAN, với sự tham gia của 9 quốc gia trong khối.[48]
Bên cạnh các lĩnh vực truyền thống, hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN trong lĩnh vực văn hóa – xã hội những năm gần đây đã mở rộng mạnh mẽ sang các trụ cột hiện đại với nổi bật là kinh tế số, hợp tác xanh và phát triển đô thị thông minh. Đây không chỉ là minh chứng cho sự thích ứng của ASEAN với các xu thế toàn cầu, mà còn thể hiện vai trò tích cực và chủ động của Việt Nam trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo vì một cộng đồng bền vững và toàn diện.
Một trong những điểm sáng đáng chú ý là sự tham gia tích cực của Việt Nam vào quá trình số hóa trong khu vực. Năm 2023, tổng GDP của ASEAN đạt 3.800 tỷ USD, xếp hạng thứ 5 toàn cầu, trong đó Việt Nam nổi bật như một điểm sáng trong tiến trình phát triển kinh tế số của khu vực. Việt Nam đã chủ động tham gia nhiều sáng kiến và chương trình hợp tác khu vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số cũng như xây dựng nền kinh tế số theo hướng bền vững. Nhờ tích cực chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường hợp tác với các quốc gia thành viên khác, Việt Nam không chỉ nâng cao năng lực nội tại mà còn đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của ASEAN.[49] Trước đó, vào năm 2011, nhằm mục tiêu xây dựng một Cộng đồng ASEAN số toàn diện, các quốc gia thành viên đã thông qua Kế hoạch Tổng thể Kỹ thuật số ASEAN 2025 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 38 vào năm 2021. Kế hoạch này hướng đến việc hình thành một khối kinh tế kỹ thuật số hàng đầu, được hỗ trợ bởi hệ sinh thái công nghệ, dịch vụ số an toàn và đổi mới. Trong khuôn khổ đó, Việt Nam đã sớm được định hình một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy thu hẹp khoảng cách số và phát triển hạ tầng số đồng đều giữa các nước thành viên.[50]
Song song với kinh tế số, vấn đề hợp tác xanh cũng là chủ đề được bàn luận tích cực. Việt Nam cam kết tiếp tục quản lý hóa chất và chất thải theo hướng thân thiện với môi trường và giảm thiểu chất thải theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường hợp tác ASEAN trong việc chống vận chuyển xuyên biên giới bất hợp pháp các hóa chất và chất thải nguy hại. Phát biểu tại Hội nghị lần thứ 8 Nhóm công tác ASEAN về hóa chất và chất thải (gọi tắt là Hội nghị AWGCW-8)diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 7 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân nhấn mạnh Việt Nam sẽ đẩy mạnh hoàn thiện khung pháp lý, nội luật hóa các cam kết quốc tế, phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN và đối tác quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực nhằm xây dựng một cộng đồng ASEAN xanh, bền vững.[51]
Đáng chú ý, tháng 6 năm 2025, Diễn đàn Quản trị cấp cao Việt Nam – Singapore (VSBF 2025) được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề “Thiết lập biểu đồ bền vững ASEAN: Cơ hội kinh doanh xanh trong thế giới Net-Zero được đẩy nhanh”. Diễn đàn thu hút hơn 150 lãnh đạo doanh nghiệp, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách từ ASEAN cùng các đối tác quốc tế như Singapore, Pháp, Úc và Nhật Bản. Đây là minh chứng cho việc chuyển từ cam kết sang hành động thực chất, tập trung vào sáng kiến kinh tế xanh, đầu tư có trách nhiệm và hợp tác xuyên biên giới. Sự kiện cũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực xây dựng ASEAN năng động, bền vững và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu.[52]
Ngoài ra, một lĩnh vực khác cũng ghi nhận những dấu ấn hợp tác nổi bật là phát triển đô thị thông minh. Từ năm 2018, ASEAN đã triển khai Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN (ASEAN Smart Cities Network – ASCN) nhằm thúc đẩy kết nối và chia sẻ chính sách giữa các thành phố thành viên về quy hoạch đô thị bền vững, thông minh và thích ứng với các thách thức hiện đại. Việt Nam hiện có ba thành phố tham gia mạng lưới này là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Các thành phố không chỉ hợp tác trong lĩnh vực hạ tầng, công nghệ và dữ liệu mở, mà còn hướng tới xây dựng các mô hình đô thị đặt con người làm trung tâm, thân thiện với môi trường và ứng dụng đổi mới sáng tạo. ASCN được kỳ vọng là nền tảng hợp lực để thúc đẩy đô thị hóa bền vững, tối ưu hóa phát triển kinh tế số, và tăng cường kết nối quốc tế cho ASEAN. Bà Danielle Walsh, Giám đốc Toàn cầu mảng kỹ thuật số của HSBC, nhận định rằng cách tiếp cận của Đông Nam Á đối với mạng lưới thành phố thông minh là một sáng kiến tiên phong mang tầm quốc tế. Theo bà, việc thành lập ASCN sẽ tạo ra hiệu ứng cộng hưởng, giúp các sáng kiến đô thị thông minh trong khu vực không chỉ phát huy hiệu quả riêng lẻ mà còn kết hợp lại thành một lực đẩy mạnh mẽ, thúc đẩy ASEAN vươn xa hơn trong quá trình phát triển thành phố thông minh trên bình diện toàn cầu.[53] Từ việc giải quyết áp lực đô thị hóa nhanh (dự báo đến 2030 có thêm 100 triệu người đô thị hóa), ASCN đánh dấu bước phát triển dẫn dắt toàn cầu về thành phố thông minh tại khu vực Đông Nam Á.
3. Cơ hội, thách thức và những kiến nghị cho Việt Nam
3.1. Cơ hội
Gia nhập ASEAN đã trở thành một bước ngoặt chiến lược trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, mở ra hàng loạt cơ hội phát triển cả về mặt kinh tế lẫn thể chế. Kể từ khi trở thành thành viên chính thức năm 1995, Việt Nam đã từng bước tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác trong khu vực để thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế quốc tế. Hiện nay, ASEAN là đối tác xuất khẩu lớn thứ tư và là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã tăng trưởng vượt bậc, từ mức 3,26 tỷ USD vào năm 1995 lên tới khoảng 83,6 tỷ USD vào năm 2024 – tăng hơn 25 lần trong gần ba thập kỷ.
Bên cạnh đó, sự tham gia tích cực vào các thỏa thuận thương mại tự do giữa ASEAN và các đối tác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand (gọi chung là FTA+1), đặc biệt là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), đã mở rộng không gian kinh tế cho Việt Nam. Theo Đại sứ Tôn Thị Ngọc Hương, với RCEP, Việt Nam có thể tiếp cận một thị trường rộng lớn với tổng GDP trên 26.000 tỷ USD và dân số chiếm khoảng 30% dân số toàn cầu – một nền tảng lớn để thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, việc tham gia sâu vào các tiến trình hợp tác của ASEAN trên ba trụ cột Cộng đồng (Chính trị-An ninh, Kinh tế, và Văn hóa-Xã hội) cũng mang lại lợi ích thiết thực cho người dân Việt Nam. Những lĩnh vực như chống tội phạm xuyên quốc gia, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, hợp tác biển, và ứng phó với biến đổi khí hậu đều được thúc đẩy thông qua hợp tác khu vực, giúp Việt Nam cải thiện năng lực quản lý và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Việt Nam còn có cơ hội tham gia các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, trao đổi giáo dục, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh – những nội dung ngày càng thiết yếu trong thời đại kinh tế số. Đặc biệt, sự tham gia vào các cơ chế này không chỉ mang lại lợi ích vật chất mà còn giúp đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các khuôn khổ đa phương rộng lớn trong tương lai.[54]
Mối quan hệ ASEAN – Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) đã được nâng cấp thành đối tác chiến lược, mở ra cho Việt Nam cơ hội hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực năng lượng xanh. Chính phủ Việt Nam đề xuất xây dựng mô hình hợp tác liên khu vực mới với GCC, trong đó ASEAN đóng vai trò cầu nối hợp tác về chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, năng lượng hydrogen xanh, lưu trữ năng lượng thông minh và chuỗi cung ứng Halal, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của cả hai bên. Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị ASEAN‑GCC năm 2023 ở Riyadh, hai khối nên tập trung vào thương mại, đầu tư và phát triển bền vững, biến hợp tác kinh tế thành trụ cột chính trong đối thoại song phương. Việt Nam có thể đóng vai trò cầu nối để thúc đẩy doanh nghiệp và quỹ đầu tư GCC đầu tư vào ASEAN, đồng thời hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa dịch vụ sang vùng vịnh.[55] Thời điểm này, ASEAN được đánh giá có lợi thế về thị trường lớn, dân số trẻ, khả năng tăng trưởng nhanh, trong khi GCC là trung tâm năng lượng và tài chính toàn cầu với thế mạnh công nghệ và kinh nghiệm phát triển xanh.[56] Sự kết nối này sẽ hỗ trợ Việt Nam thu hút đầu tư chất lượng cao, tiếp cận công nghệ mới và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, gió và hydro xanh từ các nước GCC. Qua đó, có thể khẳng định giữa GCC và ASEAN tồn tại sự bổ trợ lẫn nhau về lợi thế: trong khi GCC sở hữu tiềm lực tài chính mạnh mẽ và nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, thì ASEAN lại có thế mạnh về sản xuất, nông nghiệp và đóng vai trò là nguồn cung thiết yếu cho an ninh lương thực, những lĩnh vực mà GCC đang cần tăng cường, đồng thời cũng là các lĩnh vực Việt Nam có thể tận dụng để mở rộng hợp tác.[57]
3.2. Thách thức
Mặc dù ASEAN và Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong 30 năm đồng hành, nhưng quá trình hội nhập và hợp tác vẫn đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Một trong những thách thức nổi bật là vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông, nơi vẫn tồn tại tranh chấp chủ quyền giữa các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc. Bất đồng về lợi ích, sự khác biệt trong bản sắc chính trị và văn hóa, cũng như thiếu lòng tin chiến lược giữa các quốc gia trong khối khiến ASEAN gặp khó trong việc xây dựng lập trường chung và phản ứng kịp thời trước các hành động đơn phương từ bên ngoài. Dù đã có các tuyên bố chung và khuôn khổ như Tuyên bố về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC), nhưng quá trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử (COC) vẫn chưa đạt được tiến triển rõ rệt, do thiếu sự đồng thuận nội khối và ảnh hưởng từ các cường quốc.[58]
Thách thức tiềm tàng khác đến từ sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các nước. Sự chênh lệch lớn về mức phát triển giữa các nước ASEAN tạo áp lực đáng kể lên Việt Nam. Các quốc gia như Lào, Campuchia hay Myanmar vẫn đang phụ thuộc nhiều vào viện trợ và chưa có nền tảng sản xuất mạnh, trong khi Việt Nam đã lọt nhóm trung bình khá và đang tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đặt Việt Nam vào vị trí vừa là đối tác cạnh tranh vừa là nhà hỗ trợ khu vực.[59] Cuối cùng, bối cảnh địa chính trị khu vực hiện nay đang chứng kiến nhiều căng thẳng như nội chiến Myanmar, tranh chấp Nga‑Ukraine, Iran-Israel và cạnh tranh Mỹ – Trung. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ lan tỏa xung đột vào ASEAN, đòi hỏi ASEAN phải cân bằng giữa giữ trung lập và tự bảo vệ lợi ích thành viên.[60]
Cùng với đó, vấn đề môi trường, đặc biệt là nguồn nước sông Mekong đã trở thành một nội dung quan trọng và nhạy cảm. Dự án kênh đào Phù Nam (Funan Techo Canal) do Campuchia đề xuất và triển khai từ năm 2023 là một ví dụ điển hình cho những thách thức xuyên biên giới đòi hỏi ASEAN phải tăng cường điều phối. Với chiều dài khoảng 180km, nối sông Bassac (sông Hậu) đến tỉnh Kep giáp biển, dự án này có thể ảnh hưởng đến lưu lượng nước đổ về Đồng bằng sông Cửu Long vốn là một vùng sản xuất nông nghiệp và sinh thái trọng yếu của Việt Nam.[61] Theo phân tích từ các nhà khoa học Việt Nam, kênh đào có thể làm giảm lưu lượng nước mùa khô từ sông Bassac, gây nguy cơ xâm nhập mặn sớm và mất phù sa cho hàng triệu hộ dân miền Tây.[62] Trước nguy cơ đó, Việt Nam đã nhiều lần kêu gọi Campuchia chia sẻ đầy đủ thông tin về dự án và phối hợp đánh giá tác động xuyên biên giới theo đúng tinh thần Hiệp định Mekong 1995 và trong khuôn khổ của Ủy hội sông Mekong (MRC) – một tổ chức có sự tham gia của nhiều thành viên ASEAN. Tại hội thảo tháng 4 năm 2024 do Ủy ban Quốc gia Mekong Việt Nam tổ chức, các chuyên gia và đại diện chính phủ đề xuất tăng cường cơ chế phối hợp để đảm bảo quyền lợi môi trường cho các nước hạ lưu, trong đó có Việt Nam.[63]
Vấn đề này cho thấy rõ hai chiều cạnh trong 30 năm hợp tác Việt Nam – ASEAN: một mặt là sự liên kết ngày càng chặt chẽ về phát triển hạ tầng, môi trường và phúc lợi xã hội; mặt khác là những thách thức mới nảy sinh đòi hỏi cơ chế điều phối hiệu quả hơn trong cộng đồng khu vực. Kênh đào Phù Nam, xét về bản chất, không chỉ là câu chuyện song phương giữa Việt Nam và Campuchia, mà còn là phép thử cho tinh thần trách nhiệm và gắn kết của ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề chung mang tính chất liên quốc gia.[64]
3.3. Kiến nghị
Tiếp nối chặng đường 30 năm đồng hành và phát triển, quan hệ Việt Nam – ASEAN dự kiến sẽ còn nhiều đột phá trong tương lai với cả những cơ hội và thách thức. Trước bối cảnh đầy biến động của thế giới hiện tại, Việt Nam cần có những định hướng thích hợp để củng cố vai trò của Việt Nam ở ASEAN, cũng như khẳng định vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.
Thứ nhất, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị trí của ASEAN trong chính sách đối ngoại, nhằm khẳng định giá trị chiến lược và đa chiều của tổ chức này đối với sự phát triển bền vững và an ninh quốc gia. Việc khắc phục tâm lý lệch lạc – bao gồm cả sự kỳ vọng quá mức lẫn việc đánh giá chưa đầy đủ – là điều cần thiết để hình thành nhận thức nhất quán và sâu sắc hơn về ASEAN trong dư luận trong nước.
Thứ hai, Việt Nam cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lấy quốc gia – dân tộc làm trung tâm với tư duy cộng đồng ASEAN, đặt lợi ích quốc gia trong tổng thể chung của khu vực. Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam nên tiếp tục tìm kiếm điểm cân bằng giữa bảo vệ lợi ích cốt lõi và đóng góp tích cực vào lợi ích tập thể của ASEAN, qua đó củng cố tinh thần đoàn kết và sự gắn kết nội khối.
Thứ ba, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gia tăng và ASEAN phải đối diện với các thách thức mới như vấn đề kết nạp Đông Timor, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, đồng thời ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình.
Thứ tư, Việt Nam nên chủ động xác định các lĩnh vực và vấn đề then chốt phù hợp với tiềm lực và thế mạnh để đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hoặc trung gian hòa giải. Điều này sẽ giúp Việt Nam khẳng định vị thế và thể hiện trách nhiệm trong quá trình định hình các sáng kiến khu vực, đồng thời nâng cao ảnh hưởng quốc tế một cách bền vững.
Thứ năm, cần đẩy mạnh hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong việc tận dụng các cơ hội mà ASEAN mang lại. Đặc biệt, cần tạo điều kiện để các chủ thể trong nước mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ, đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư từ các nước ASEAN cũng như thông qua ASEAN.
Cuối cùng, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả điều phối trong các cơ chế hợp tác ASEAN, đặc biệt là tại các bộ, ngành chủ chốt. Bên cạnh đó, việc củng cố và hiện đại hóa hoạt động của Ban Thư ký ASEAN quốc gia và Phái đoàn Việt Nam tại ASEAN là một yếu tố then chốt, giúp tăng cường tiếng nói và vai trò của Việt Nam trong các tiến trình hợp tác khu vực trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Tóm lại, sự tham gia chủ động và trách nhiệm của Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của Cộng đồng ASEAN. Trong bối cảnh đến năm 2030 và xa hơn, với nền tảng về vị thế, uy tín và năng lực mới, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò tích cực, linh hoạt và sáng tạo hơn nữa, nhằm không chỉ thúc đẩy hợp tác khu vực, mà còn phục vụ hiệu quả hơn cho mục tiêu phát triển quốc gia trong thời đại mới.
Tổng kết
Dấu mốc 30 năm quan hệ Việt Nam-ASEAN là một dịp trọng đại và đầy ý nghĩa để hai bên cùng nhìn lại chặng đường hợp tác đã qua, rút ra những bài học quý báu, đồng thời đặt nền móng cho những định hướng hợp tác chiến lược trong tương lai. Trong bối cảnh địa chính trị khu vực và toàn cầu đang có nhiều biến động, quan hệ Việt Nam-ASEAN sẽ tiếp tục là nền tảng quan trọng để Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia, tăng cường đối thoại với các nước láng giềng, phát triển bền vững và khẳng định vai trò trong cấu trúc khu vực. Với tinh thần hội nhập chủ động, sáng tạo và trách nhiệm, Việt Nam bước vào giai đoạn mới của quan hệ Việt Nam-ASEAN với tâm thế sẵn sàng đóng vai trò kiến tạo, đồng hành và dẫn dắt. Từ đây, Việt Nam và ASEAN tiếp tục cùng nhau xây dựng tầm nhìn dài hạn, thích ứng linh hoạt trước những thay đổi, và cùng nhau hiện thực hóa mục tiêu về một cộng đồng ASEAN gắn kết, bao trùm, tự cường và vươn xa trong kỷ nguyên toàn cầu hóa
Dan Thuy, Văn Hậu, Minh Thư
Tài liệu tham khảo
[1] Thanh Thanh. (2023). Việt Nam là một thành viên tích cực có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thanh tra. Truy cập ngày 30/7/2025. https://thanhtra.com.vn/chinh‑tri/doi‑ngoai/viet‑nam‑la‑mot‑thanh‑vien‑tich‑cuc‑co‑trach‑nhiem‑cua‑cong‑dong‑quoc‑te‑213987.html
[2] PV/VOV‑Bangkok. (2025). 30 năm gia nhập ASEAN: Cơ chế hợp tác đa phương quan trọng nhất của Việt Nam. VOV.VN. Truy cập ngày 30/07/2025. https://vov.vn/chinh-tri/30-nam-gia-nhap-asean-co-che-hop-tac-da-phuong-quan-trong-nhat-cua-viet-nam-post1149822.vov
[3] Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI. (2022). Việt Nam – thành viên nòng cốt trong sự phát triển của ASEAN. Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI. Truy cập ngày 30/07/2025. https://trungtamwto.vn/chuyen-de/21312-viet-nam–thanh-vien-nong-cot-trong-su-phat-trien-cua-asean
[4] Phạm Bình Minh. (2015). Việt Nam và ASEAN: Tìm đến nhau qua gian nan. Báo Chính phủ điện tử – Chánh phủ VN. Truy cập ngày 30/07/2025. https://phambinhminh.chinhphu.vn/viet-nam-va-asean-tim-den-nhau-qua-gian-nan-10516609.htm
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam. (1976). Văn kiện Đại hội Đảng lần IV. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
[6] Treaty of Friendship and Cooperation between the Socialist Republic of Viet Nam and the Union of Soviet Socialist Republics. (1978, November 3). Contemporary International Relations – Basic Documents, pp. 246–257. Truy cập ngày 30/07/2025. https://larouchepub.com/eiw/public/1978/eirv05n48-19781212/eirv05n48-19781212_032-the_ussr_vietnam_treaty.pdf
[7]Alpha, S. (2021, 28 tháng 12). Sự giúp đỡ của Liên Xô sau năm 1975. Nghiên Cứu Lịch Sử. Truy cập ngày 30/07/2025. https://nghiencuulichsu.com/2021/12/28/su-giup-do-cua-lien-xo-sau-nam-1975/
[8] Bộ Ngoại giao. (2020). Ngoại giao Việt Nam 1945-2000. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật.
[9] Trọng Đức. (2022, 28 tháng 7). 27 năm Việt Nam gia nhập ASEAN (28/7/1995–28/7/2022): Khẳng định vai trò, nâng tầm vị thế. Báo Tin Tức. Truy cập ngày 30/07/2025. https://baotintuc.vn/thoi-su/27-nam-viet-nam-gia-nhap-asean-28719952872022-khang-dinh-vai-tro-nang-tam-vi-the-20220728073924558.htm
[10] Phạm Gia Khiêm. (2010). Nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2010 của Việt Nam: Thành công của ASEAN và dấu ấn Việt Nam. Báo Chính phủ. Truy cập 27/7/2025. https://baochinhphu.vn/nhiem-ky-chu-tich-asean-2010-cua-viet-nam-thanh-cong-cua-asean-va-dau-an-viet-nam-10251088.htm
[11] Vietnam+. (2010, December 9). Vietnam celebrates its successful ASEAN year. Vietnam+ (VietnamPlus). https://en.vietnamplus.vn/vietnam-celebrates-its-successful-asean-year-post24749.vnp
[12] Nguyễn Hồng Điệp. (2018, September 10). WEF ASEAN 2018: Củng cố đoàn kết, quảng bá hình ảnh một ASEAN phát triển năng động. baotintuc.vn. https://baotintuc.vn/tin-tuc/wef-asean-2018-cung-co-doan-ket-quang-ba-hinh-anh-mot-asean-phat-trien-nang-dong-20180910101056495.htm
[13] Báo Tin Tức (TTXVN). (2020). Dấu ấn Năm Chủ tịch ASEAN 2020. Báo Tin Tức. Truy cập ngày 30/07/2025. https://baotintuc.vn/long-form/emagazine/dau-an-nam-chu-tich-asean-2020-20201229220915305.htm
[14] Bộ Nội vụ Việt Nam. (2021). Triển khai các sáng kiến ASEAN về ứng phó COVID‑19. Bộ Nội vụ. Truy cập ngày 30/7/2025. https://moha.gov.vn/cong-tac-thong-tin-doi-ngoai/hoat-dong-cua-bo/trien-khai-cac-sang-kien-asean-ve-ung-pho-covid-19-d933-t43735.html
[15] Thanh Hiền. (2025). Diễn đàn tương lai ASEAN 2025: Dấu ấn mới của ngoại giao Việt Nam. Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 30/7/2025. https://tuoitre.vn/dien-dan-tuong-lai-asean-2025-dau-an-moi-cua-ngoai-giao-viet-nam-20250227073719223.htm
[16] Phạm Hà. (2025). Việt Nam đồng chủ trì cuộc họp Ủy ban Hợp tác chung ASEAN – Anh lần thứ 4. VOV.VN. Truy cập ngày 30/7/2025. https://vov.gov.vn/viet-nam-dong-chu-tri-cuoc-hop-uy-ban-hop-tac-chung-asean-anh-lan-thu-4-dtnew-1074262
[17] WTO Center – VCCI. (2025, 14 tháng 3). ASEAN: A key pillar in Vietnam’s foreign policy. WTO Center. Truy cập ngày 30/7/2025. https://wtocenter.vn/tin-tuc/27364-asean-a-key-pillar-in-vietnams-foreign-policy?
[18] Thi Anh Tuyet Le and Vinh Long Hoang. (2024). Vietnam-ASEAN Trade Balance, Current Situation and Solutions. Journal of Economics, Finance and Management Studies, 7(3), 1656–1662. https://doi.org/10.47191/jefms/v7-i3-28
[19] Vũ Văn Trung. (2004, 2 tháng 7). Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – ASEAN. Báo Nhân Dân Điện Tử. https://nhandan.vn/quan-he-kinh-te-thuong-mai-viet-nam-asean-post591511.html
[20] Jow_Han. (2021, September 25). PROTOCOL FOR THE ACCESSION OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM TO THE AGREEMENT ON THE COMMON EFFECTIVE PREFERENTIAL TARIFF SCHEME FOR THE ASEAN FREE TRADE AREA. ASEAN Main Portal. https://asean.org/protocol-for-the-accession-of-the-socialist-republic-of-vietnam-to-the-agreement-on-the-common-effective-preferential-tariff-scheme-for-the-asean-free-trade-area/
[21] Admin, S. (2023, December 19). XUẤT, NHẬP KHẨU VIỆT NAM-ASEAN: PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ – THUFICO. THUFICO. https://thufico.com/tin-tuc/xuat-nhap-khau-viet-nam-asean-phat-trien-manh-me/
[22] ASEAN TRADE IN GOODS AGREEMENT. (2021). Association of Southeast Asian Nations. https://asean.org/wp-content/uploads/2021/09/22223.pdf
[23] ASEAN. (2020). ASEAN Trade in Goods Agreement (ATIGA). Retrieved from https://asean.org/our-communities/economic-community/trade-in-goods/
[24] Le, T. A. T. (2024). The role of transportation connectivity in Vietnam’s trade with ASEAN countries. Journal of Infrastructure, Policy and Development, 8(11), 9241–9258. https://doi.org/10.24294/jipd.v8i11.9241
[25] ASEAN Secretariat. (2020). ASEAN Community Vision 2025. ASEAN Secretariat. https://www.asean.org/wp-content/uploads/images/2015/November/aec-page/ASEAN-Community-Vision-2025.pdf
[26] Tăng cường thu hút và sử dụng vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam. (n.d.). Tạp chí Tài chính https://aecvcci.vn/tin-tuc-n2271/tang-cuong-thu-hut-va-su-dung-von-fdi-tu-asean-vao-viet-nam.htm
[27]TTWTO VCCI – ASEAN – Vừa là đối tác, vừa là đối thủ trong thu hút đầu tư của Việt Nam. (n.d.). https://trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/15820-asean–vua-la-doi-tac-vua-la-doi-thu-trong-thu-hut-dau-tu-cua-viet-nam
[28] Việt Nam trong ASEAN: Hành trình kết nối hợp tác và phát triển bền vững. (2024). https://vneconomy.vn/techconnect/viet-nam-trong-asean-hanh-trinh-ket-noi-hop-tac-va-phat-trien-ben-vung.htm
[29] BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NĂM 2024. (2025, January 13). IPCS. https://ipcs.mpi.gov.vn/bao-cao-tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-nam-2024/
[30] Phon-ngam, P. (2021). East-West Economic Corridor: A route of economy and friendship. Voice of Research, 9(4), 54–61. https://www.voiceofresearch.org/doc/Mar-2021/Mar-2021_8.pdf
[31] Công Trung. (2025, June 27). Hạ tầng giao thông đồng bộ để Long Thành không chỉ là sân bay. TUOI TRE ONLINE. https://tuoitre.vn/ha-tang-giao-thong-dong-bo-de-long-thanh-khong-chi-la-san-bay-20250627134551956.htm
[32] Vlr.Vn. (n.d.). Cái Mép – Thị Vải: “Trái tim” của chuỗi cung ứng đất nước. Tin Tức vlr.vn. https://vlr.vn/cai-mep-thi-vai-trai-tim-cua-chuoi-cung-ung-dat-nuoc-19308.html
[33] Vietnam.Vnanet.Vn. (2025, July 24). 30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN: Khẳng định vị thế ngày càng mang tính dẫn dắt. Báo ảnh Việt Nam. https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/tin-van/30-nam-viet-nam-gia-nhap-asean-khang-dinh-vi-the-ngay-cang-mang-tinh-dan-dat-403469.html
[34] Đặng Cẩm Tú & Trịnh Minh Mạnh (2023, August 7). Định hướng tham gia của Việt Nam trong ASEAN đến năm 2030. Tạp chí cộng sản. Retrieved July 24, 2025, from https://phapluatphattrien.vn/dinh-huong-tham-gia-cua-viet-nam-trong-asean-den-nam-2030-d767.html
[35] Bộ Ngoại Giao. (1999). Tổng luận 50 năm hoạt động ngoại giao Việt Nam. Hà Nội.
[36] Vietnam+. (2016, July 26). Vietnam reiterates stance on East Sea issue in Laos. Vietnam+ (VietnamPlus). https://en.vietnamplus.vn/vietnam-reiterates-stance-on-east-sea-issue-in-laos-post96681.vnp
[37] TTWTO VCCI – 27 năm Việt Nam gia nhập ASEAN (28/7/1995-28/7/2022): Khẳng định vai trò, nâng tầm vị thế. (n.d.). https://trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/21240-27-nam-viet-nam-gia-nhap-asean-2871995-2872022-khang-dinh-vai-tro-nang-tam-vi-the
[38] Vũ Hồ. (2023). Dấu ấn Việt Nam trong ASEAN: Đồng hành, lớn mạnh cùng năm tháng. Tạp Chí Cộng Sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/828918/dau-an-viet-nam-trong-asean–dong-hanh%2C-lon-manh-cung-nam-thang.aspx
[39] Baochinhphu.Vn. (2025, July 25). Hành trình 30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN qua góc nhìn chuyên gia quốc tế. baochinhphu.vn. https://baochinhphu.vn/hanh-trinh-30-nam-viet-nam-gia-nhap-asean-qua-goc-nhin-chuyen-gia-quoc-te-102250725154349378.htm
[40] Quốc Hùng. (2020). 25 năm Việt Nam gia nhập ASEAN. https://soctrang.dcs.vn/Default.aspx?sname=tinhuy&sid=4&pageid=469&catid=54308&id=285816&catname=T%u01b0+t%u01b0%u1edfng&title=25-nam-viet-nam-gia-nhap-asean
[41] ASEAN Secretariat. (2008). ASEAN Charter. Jakarta: ASEAN Secretariat.
[42] Thiên Thảo. (2024, March 25). Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống ma túy – Báo Công an Nhân dân điện tử. Báo Công an Nhân Dân Điện Tử. https://cand.com.vn/phap-luat/tang-cuong-hop-tac-quoc-te-trong-dau-tranh-phong-chong-ma-tuy-i726226/
[43] Quốc Dũng. (2024, April 23). Hợp tác quốc tế chống khai thác IUU. bnews.vn. https://bnews.vn/hop-tac-quoc-te-chong-khai-thac-iuu/330887.html
[44] Những thành tựu đạt được của Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC) trong 50 năm qua và Sự tham gia của Việt Nam. (2017, September 8). https://www.molisa.gov.vn/baiviet/26824?tintucID=26824
[45] Thái An, Minh Anh, Ngọc Trâm. (2025). Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN: 10 năm trên hành trình đoàn kết, bền vững và lấy người dân làm trung tâm (kỳ 1). https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/the-gioi-viet-nam/cong-dong-van-hoa-xa-hoi-asean-10-nam-tren-hanh-trinh-doan-ket-ben-vung-va-lay-nguoi-dan-lam-trung-tam-ky-115462
[46] Thái An, Minh Anh, Ngọc Trâm. (2025). Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN: 10 năm trên hành trình đoàn kết, bền vững và lấy người dân làm trung tâm (kỳ 1). https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/the-gioi-viet-nam/cong-dong-van-hoa-xa-hoi-asean-10-nam-tren-hanh-trinh-doan-ket-ben-vung-va-lay-nguoi-dan-lam-trung-tam-ky-115462
[47] Đào Hồng Lan. (2025). Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC) và sự tham gia của Việt Nam. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. https://www.molisa.gov.vn/baiviet/24026
[48] Bùi Hoài Sơn, & Nguyễn Thị Lan Hương. (2016). Hợp tác văn hóa Việt Nam – ASEAN. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/39963/hop-tac-van-hoa-viet-nam—asean.aspx
[49] Bảo Ngọc. (2025, March 14). Phát triển môi trường kinh tế số thông minh, an toàn để thúc đẩy thương mại, đầu tư trong ASEAN. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-moi-truong-kinh-te-so-thong-minh–an-toan-de-thuc-day-thuong-mai–dau-tu-trong-asean-138399.htm
[50] Lãnh đạo ASEAN ra tuyên bố về thúc đẩy chuyển đổi số. (2021). Bộ Khoa học và công nghệ. https://mst.gov.vn/lanh-dao-asean-ra-tuyen-bo-ve-thuc-day-chuyen-doi-so-197149615.htm
[51] Hùng Võ. (2023). Việt Nam đẩy mạnh hợp tác về hóa chất và chất thải vì một ASEAN ‘xanh’. Trang Thông tin đối ngoại. https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/viet-nam-day-manh-hop-tac-ve-hoa-chat-va-chat-thai-vi-mot-asean-xanh-81596
[52] Việt Nam và ASEAN thúc đẩy hợp tác kinh tế xanh. (2025). hanoionline.vn. https://hanoionline.vn/video/viet-nam-va-asean-thuc-day-hop-tac-kinh-te-xanh-339923.htm
[53] Anh Minh. (2018). Mạng lưới thành phố thông minh ASEAN, sáng kiến đưa Đông Nam Á lên vị trí dẫn đầu. Báo Điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/mang-luoi-thanh-pho-thong-minh-asean-sang-kien-dua-dong-nam-a-len-vi-tri-dan-dau-102238249.htm
[54] 30 năm đồng hành và lớn mạnh – ASEAN và Việt Nam khai phá cơ hội hợp tác mới. (2025). Trang Thông tin đối ngoại. https://ttdn.vn/nghien-cuu-trao-doi/su-kien-binh-luan/30-nam-dong-hanh-va-lon-manh-asean-va-viet-nam-khai-pha-co-hoi-hop-tac-moi-115793
[55] Phuong, K. (2023, October 20). Trade and investment should be key pillar of ASEAN-GCC cooperation. SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM Government News. https://en.baochinhphu.vn/trade-and-investment-should-be-key-pillar-of-asean-gcc-cooperation-111231020213723219.htm
[56] Việt Nam đề xuất xây dựng mô hình hợp tác liên khu vực thế hệ mới. (2025). hanoionline.vn. https://hanoionline.vn/viet-nam-de-xuat-xay-dung-mo-hinh-hop-tac-lien-khu-vuc-the-he-moi-334776.htm
[57] Ngọc Đức, & Thanh Hiền. (2025). Vùng Vịnh – không gian hợp tác mới của ASEAN. https://tuoitre.vn/vung-vinh-khong-gian-hop-tac-moi-cua-asean-20250528075012337.htm
[58] Dương Văn Huy.(2023). ASEAN với giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Tạp Chí Cộng Sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/826940/asean-voi-giai-quyet-tranh-chap-tren-bien-dong.aspx
[59] Đặng Cẩm Tú. (2025, August 12). Vai trò thành viên trách nhiệm, tích cực của Việt Nam trong ASEAN: Cơ hội và thách thức khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-binh-luan/-/asset_publisher/DLIYi5AJyFzY/content/vai-tro-thanh-vien-trach-nhiem-tich-cuc-cua-viet-nam-trong-asean-co-hoi-va-thach-thuc-khi-viet-nam-buoc-vao-ky-nguyen-moi
[60] Walker, O. (2025, May 22). US-China trade war is pushing Asian nations to pick sides, ministers warn. Financial Times. https://www.ft.com/content/583f9db3-5a48-43c7-83e9-76c29a42cad3
[61] Nguyễn Hồng Quân. (2024, April 23). Kênh đào Phù Nam Techo: Nỗi lo về an ninh nguồn nước và hệ sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long. Dân trí. https://dantri.com.vn/the-gioi/kenh-dao-phu-nam-techo-noi-lo-ve-an-ninh-nguon-nuoc-va-he-sinh-thai-dong-bang-song-cuu-long-20240419145618003.htm
[62] Cambodian Funan Techo Canal might reduce water flow to Hậu River: experts. (2024). Việt Nam News. https://vietnamnews.vn/society/1654422/cambodian-funan-techo-canal-might-reduce-water-flow-to-hau-river-experts.html
[63] Việt Nam asks Cambodia to share detailed information on canal project. (2024). vietnamnews.vn. https://vietnamnews.vn/society/1654924/viet-nam-asks-cambodia-to-share-detailed-information-on-canal-project.html
[64] Pham Vu Thieu Quang. (2024, November 7). 2021/92 “Weaknesses in Mekong River Governance: The Case of the Funan Techo Canal” by Pham Vu Thieu Quang. ISEAS – Yusof Ishak Institute. https://www.iseas.edu.sg/articles-commentaries/iseas-perspective/2021-92-weaknesses-in-mekong-river-governance-the-case-of-the-funan-techo-canal-by-pham-vu-thieu-quang/